Hiển thị các bài đăng có nhãn Disaster. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Disaster. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Kỹ năng an toàn khi có tình huống khẩn cấp trên máy bay

 

 

Kỹ năng an toàn khi có tình huống khẩn cấp trên máy bay

Thursday, December 18, 2014

2:14 PM

Kỹ năng an toàn khi có tình huống khẩn cấp trên máy bay

Khi máy bay gặp sự cố, hãy vào tư thế ngồi an toàn là gập người sát đầu gối hoặc gục vào thành sau của ghế trước. Bình tĩnh giúp bạn có nhiều khả năng sống hơn là hoảng loạn.

·          Kỹ năng an toàn để sống sót khi ôtô bị tai nạn giao thông /  Kỹ năng an toàn khi đi thang máy gặp sự cố

Theo phi công Quốc Toàn (công tác tại TP HCM), gần đây thảm họa hàng không trở thành cơn ác mộng đối với nhân loại bởi mức độ thảm khốc của phương tiện được coi là hiện đại bậc nhất này. Thậm chí nhiều người ngại đi máy bay vì ám ảnh khi theo dõi thông tin v hàng loạt vụ tai nạn.

Có một điều ít ai đ ý đến, đó là số lượng người sống sót trong các vụ tai nạn máy bay cao hơn rất nhiều so với nạn nhân tử vong. Một nghiên cứu  Mỹ giai đoạn từ 1993 đến 2000 ghi nhận có 568 vụ rơi máy bay ở nước này, có đến 51.207 hành khách và phi hành đoàn sống sót (chiếm trên 90% tổng số 53.487 nạn nhân). Trong nhiều vụ rơi máy bay thảm khốc, vẫn có hơn 50% nạn nhân thoát chết

"Điều đó cho thấy có rất nhiều khả năng sống sót khi máy bay gặp nạn chứ không đáng sợ như nhiều người vẫn nghĩ", phi công Toàn chia sẻ. Ghi nhận của các hãng hàng không trên thế giới, khoảng 30% nạn nhân thiệt mạng khi máy bay rơi đáng lẽ có thể sống sót nếu thực hiện đúng các chỉ dẫn an toàn cụ thể, như:

1. Cài dây an toàn

Máy bay cũng như bất kỳ loại phương tiện nào, vấn đề nhồi xóc có th xảy ra mà không đoán trước được. Trong trường hợp này, những người không cài dây an toàn thường dễ bị thương hơn. Ít nhất 90% hành khách bị chấn thương đã không thắt dây an toàn. 

"Hành khách cần cài dây an toàn trong toàn bộ thời gian bay, đừng đợi đến khi đèn đỏ bật sáng. Cài dây càng thấp xuống vùng xương chậu càng tốt vì vùng xương này có cấu trúc kiên cố nên chịu lực cao. Nếu dây an toàn trượt lên gần dạ dày, bạn sẽ có nguy cơ tổn thương nội tạng", ông Toàn lưu ý.

2. Đọc kỹ hướng dẫn an toàn và lắng nghe phát thanh chỉ dẫn

Mỗi loại máy bay có hướng dẫn an toàn khác nhau nên các thông tin này luôn cần thiết. Hãy tự giác làm quen với những kỹ thuật di tản khẩn cấp được ghi trong sách hướng dẫn về an toàn trên máy bay. Nếu không rõ, hãy hỏi những tiếp viên trên máy bay. 

3. Tư thế an toàn khi gặp sự cố

Tư thế ngồi an toàn giúp hạn chế chấn thương khi có sự cố. Ngồi gập người sát đầu gối sẽ tốt hơn, nhưng trong trường hợp ghế ngồi không đủ rộng, bạn hãy bám tay và gục đầu sát vào thành sau của ghế trước, đặt bàn chân sát sàn, đặt hành lý xách tay sát lưng ghế phía trước để tạo thành một cái đệm giảm va đập chân với ghế. Có thể dùng gối, áo khoác hay vật mềm đ kê đầu, lưng và đảm bảo rằng trong người bạn không có vật nhọn gây sát thương.

Tư thế ngồi an toàn trên máy bay. Nếu có thể, hãy chèn thêm gối hay vật mềm để kê đầu, lưng sẽ giúp giảm áp lực va đập.  Ảnh: Wikihow.

4. Bình tĩnh

Những người càng coi thường chỉ dẫn an toàn thì khi xảy ra sự cố càng dễ hoảng loạn và la hét. Thực tế, việc giữ một cái đầu lạnh sẽ giúp bạn có nhiều cơ hội sống hơn. Kể cả trong các tai nạn tồi tệ nhất, bạn vẫn còn cơ hội sống sót, quan trọng là cần bình tĩnh suy xét các phương án thoát nạn hợp lý và tối đa mọi cơ hội. Hãy nhớ rằng máy bay thường xuyên được kiểm tra an toàn. Nếu sợ hãi, hãy chú ý đến các tiếp viên, họ còn bình tĩnh và thoải mái tức là mọi thứ vẫn trong tầm kiểm soát.

5. Mang mặt nạ dưỡng khí trước khi giúp đỡ người khác

Khi áp suất trong máy bay giảm, mặt nạ dưỡng khí sẽ tự động rơi xuống từ trần khoang khách và trong phòng vệ sinh. Hành khách nên giữ nguyên vị trí của mình, kéo và giật mạnh mặt nạ gần nhất, đặt lên mũi và miệng thở bình thường rồi choàng dây qua đầu và siết chặt dây giữ mặt nạ. 

Lưu ý: Nên đeo mặt nạ cho mình trước sau đó mới trợ giúp trẻ em hoặc khách đi cùng. Khi sự cố nghiêm trọng xảy ra, bạn chỉ có 15 giây để thở trước khi bất tỉnh. Thời gian "vàng" này sít đối với người nghiện thuốc hoặc mắc bệnh tuần hoàn hô hấp. Hành khách bất tỉnh cũng cần giúp h đeo mặt nạ dưỡng khí. 

6. Tránh xa khói bụi

Khi máy bay bị nạn, phần lớn nạn nhân tử vong là do hít phải khói bụi. Khi có khói lửa, cần sử dụng khăn hoặc vải nhúng nước để lên trên mũi và miệng, trong tư thế cúi thấp người, nhanh chóng di chuyển về phía cửa thoát hiểm phía trước hoặc cửa nào gần hơn theo hướng ánh sáng đèn trên sàn. Khi nhảy xuống tấm trượt thoát hiểm, nên tháo bỏ giày cao gót, đặt chân xuống trước rồi ngồi xuống tấm trượt trong tư thế hai tay đặt chéo trước ngực. 

7. Tuân nghe hướng dẫn của tiếp viên hàng không

Tất cả tiếp viên đều trải qua huấn luyện nghiêm ngặt để ứng phó các tình huống có thể xảy ra, vì vậy hãy cố gắng hợp tác để tăng cơ hội sống cho tất cả mọi người. Đừng cố mang theo hành lý để đảm bảo cơ hội sống sót của bạn. Cố gắng xác định đám cháy và các chướng ngại bên ngoài để chọn lối thoát hiểm an toàn nhất. 

8. Tránh xa máy bay tối thiểu 150 m

Trong trường hợp bị mắc kẹt trong một khu vực xa lạ, vắng người, bạn phải ở gần máy bay để chờ cứu hộ, tuy nhiên luôn giữ khoảng cách ít nhất là 150 m. Cháy nổ có thể xảy ra bất cứ khi nào sau một vụ tai nạn. Nếu máy bay hạ cánh trên mặt nước, hãy cố gắng bơi khỏi đống đổ nát càng xa càng tốt.

9. Hành trang an toàn khi đi máy bay

Khi đi máy bay, tốt nhất là mặc quần dài, áo tay dài và giày ôm kín chân. Những đôi dép, xăng đan hay giày cao gót, quần áo vướng víu khiến bạn gặp khó khăn khi di chuyển nếu có sự cố xảy ra. Trường hợp trong vùng không khí lạnh, hãy chuẩn bị sẵn một chiếc áo khoác. Trong nhiều trường hợp, bạn phải giữ ấm thân thể để sống sót. Áo len với đặc tính cách nhiệt, không dẫn cháy k cả khi ướt là lựa chọn tốt nhất.

 

From <http://doisong.vnexpress.net/tin-tuc/suc-khoe/tu-van/ky-nang-an-toan-khi-co-tinh-huong-khan-cap-tren-may-bay-3122236.html>

 

Created with Microsoft OneNote 2013.

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

Trung Quốc trả giá thê thảm cho sự phát triển

http://vietnamdefence.com/Home/phantich/Trung-Quoc-tra-gia-the-tham-cho-su-phat-trien/20125/51618.vnd

Trung Quốc trả giá thê thảm cho sự phát triển

VietnamDefence - Hơn 50 thành phố Trung Quốc đang chìm sâu xuống đất ngay trước mắt do đất liên tục sụt lún.

Có lỗi trước hết là việc sử dụng quá mức nguồn nước ngầm, kết quả là bên dưới nhiều thành phố Trung Quốc, trong đó có Bắc Kinh, đã tạo ra những hố ngầm lớn nhất thế giới. Nhưng các vấn đề sinh thái của Trung Quốc không chỉ dừng ở đó.

Ở Trung Quốc, các ao hồ đang bốc hơi, các dòng sông khô cạn, 75% diện tích rừng bị chặt phá. Vì tầng đất bề mặt bị hủy hoại, đất đai đang biến thành sa mạc và phủ cát lên các thành phố, thậm chí các nước láng giềng. Như vậy, Trung Quốc đang trả giá cho tốc độ phát triển kinh tế chưa từng có và sự ham thích tiêu dùng mãnh liệt.

"Năm 1986, khi tôi lần đầu tiên đến Thượng Hải, ở đó chỉ có vài nhà cao tầng. 20 năm sau, số lượng các nhà này tăng lên đến 4.000, đó là gần như gấp đôi New York. Diện tích các tòa nhà văn phòng và nhà ở đang xây dựng ở Bắc Kinh - đó là bằng 3 Manhattan", - qua một "bức tranh nhỏ" từ cuốn sách "Trung Quốc sẽ đi đâu, thế giới sẽ đi đó" của giáo sứ khoa Lịch sử Trung Quốc hiện đại, Đại học Oxford Karl Gerth, ta có thể đánh giá tốc độ phát triển kinh tế và công nghiệp của nước này.

Sự so sánh với Mỹ không phải là tình cờ: Trung Quốc đang dốc toàn lực cố "đuổi kịp và vượt nước Mỹ", ít ra là về mức độ tiêu dùng. Và trong một vài lĩnh vực, họ đã làm được điều đó. Thép và thịt tiêu thụ ở đây nhiều gấp đôi ở Mỹ. Việc tiêu thụ ngũ cốc và than cũng đang tiến gần đến các con số đó. Trung Quốc muốn sống theo các tiêu chuẩn Mỹ, và liệu chúng ta có thể trách móc họ về điều đó không? Nhưng sự tăng trưởng mạnh mẽ của Trung Quốc sẽ gây hậu quả gì?

Nếu như số lượng ô tô trên đầu người sẽ đạt đến mức của Mỹ, người Trung Quốc sẽ phải trải nhựa một diện tích gần bằng tất cả diện tích đất hiện đang canh tác. Còn nhu cầu về dầu của Trung Quốc sẽ vượt quá khối lượng dầu khai thác của thế giới, ông Karl Gerth cảnh báo.

Trong cuốn sách của ông, có riêng một chương dành cho các vấn đề sinh thái của Trung Quốc đương đại. Quy mô của chúng cũng gây ấn tượng không kém so với tất cả những thay đổi khác ở nước này trong 20 năm qua. Ví dụ, nhu cầu gia tăng về thịt và len đã dẫn tới sự xuất hiện của những đàn bò, dê và cừu khổng lồ. Kết quả là, những vùng cỏ mênh mông trên các đồng bằng Trung Quốc bị hủy diệt. Tầng đất bề mặt bị tơi vụn và đất biến thành bụi và cát. Riêng ở Bắc Kinh hàng năm hứng chịu nửa triệu tấn cát. Còn trong những năm gần đây, sa mạc nuốt chửng mấy ngàn làng mạc.

"Về thực chất, Trung Quốc đã trở thành nhà xuất khẩu bụi chủ yếu của thế giới - hàng chục triệu tấn bụi Trung Quốc và muội hàng năm bị các luồng không khí đưa đến Triều Tiên và Nhật Bản, thậm chí bay đến bờ tây nước Mỹ", - ông Karl Gerth viết. Còn đáng sợ hơn về hậu quả là tình hình sử dụng nước. Tháng 3/2012, bộ đất đai và tài nguyên thiên nhiên Trung Quốc đã công bố báo cáo, theo đó bên dưới hơn 50 thành phố Trung Quốc đã ghi nhận sự sụt lún liên tục, tờ The Epoch Times  cho biết. Tình hình đặc biệt nghiêm trọng ở các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Hàng Châu, Tây An.

Quá trình này bắt đầu không phải ngày hôm qua: ví dụ, Thượng Hải trong 100 năm qua đã sụt xuống 3 m, nhưng trong những năm gần đây, quá trình này tăng nhanh đáng kể. Trong 30 năm qua, mặt đất ở thành phố Thương Châu thuộc tỉnh Hà Bắc ở miền đông sụt xuống 2,4 m. Một bệnh viện địa phương ban đầu có 3 tầng, cuối cùng chỉ còn là 2 tầng do một phần tòa nhà chìm sâu xuống đất. Các cây cầu, tuyến đường sắt bị phá hủy, các vết nứt xuất hiện trên các ngôi nhà.

Riêng Thượng Hải đã phải chi 12 tỷ USD để sửa chữa các bức tường bị nứt, gia cố móng và sửa chữa đường sá. Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng sụt lún các chuyên gia quy cho việc sử dụng quá mức nguồn nước ngầm. Mỗi năm, Trung Quốc cần ngày một nhiều hơn tài nguyên nước - cho công nghiệp, nông nghiệp và nhu cầu sinh hoạt. 85% diện tích đất canh tác ở miền bắc Trung Quốc cần tưới, nhưng để có nước, nông dân phải khoan các giếng khoan sâu đến 300 m.

Do kinh tế tăng trưởng bùng nổ, nước đang ra đi khỏi Trung Quốc: các ao hồ đang bốc hơi, các sông băng tan chảy, các dòng sông khô cạn. Karl Gerth dẫn ra một dẫn chứng rất ấn tượng: trong 20 năm qua, ở tỉnh Hà Bắc bao quanh Bắc Kinh, trong 1.000 cái hồ chỉ còn lại vài chục. Ngoài ra, nước của các con sông thường bị nhiễm bẩn kinh hoàng: Trung Quốc đang đổ hàng tỷ tấn nước thải không được làm sạch vào riêng con sông Dương Tử lớn nhất châu Á. Giá cả hàng hóa Trung Quốc tương đối rẻ, một phần là vì phớt lờ các tiêu chuẩn sinh thái. Nhưng cái giá thật sự mà dân chúng nước này đang phải trả cho sự bành trướng ra thị trường thế giới thì cao hơn thế vô cùng nhiều.

Ví dụ, hiện nay, ở Trung Quốc, 100 USD có thể mua mấy chiếc áo len mà ở thế giới còn lại có giá cao hơn nhiều. Để sản xuất một sản phẩm áo len cần lông của 2-3 con dê. Và nếu như số bãi chăn thả ở Trung Quốc gần tương đương như ở Mỹ thì số lượng đại gia súc có sừng nhiều hơn 10 triệu con, còn cừu và dê nhiều hơn 400 triệu con.

Ông Karl Gerth nhận xét khá công bằng rằng, hàng triệu con bò và dê đang điềm nhiên gặm cỏ - đó không phải là một khúc nhạc đồng quê, mà là một câu chuyện giật gân. Tiếp sau các vùng đất màu mỡ ở Trung Quốc, đến lượt các cánh rừng cũng đang biến mất: sự gia tăng xuất khẩu sản phẩm làm từ gỗ đã dẫn tới sự hủy diệt 75% diện tích rừng. Chính phủ Trung Quốc đang cố hạn chế việc chặt hạ cây cối và các biện pháp này đang buộc người Trung Quốc tìm nguồn cung gỗ ở nước ngoài và mua gỗ chặt hạ bất hợp pháp, chủ yếu là ở Nga.

Nhìn chung, tất cả những thảm họa sinh thái mà Trung Quốc hôm nay đang gánh chịu đang trực tiếp có liên quan đến Nga. Các quan chức bộ sinh thái Trung Quốc đã công khai nói rằng, trong những thập niên tới, ở Trung Quốc sẽ xuất hiện hơn 150 triệu di dân hay người tị nạn sinh thái. Đội quân khổng lồ của những di dân Trung Quốc đói khát này sẽ đổ đi đâu? Karl Gerth không hề nghi ngờ, đó chính là Siberia của Nga.

Ngoài việc hàng năm có thêm 4.000 km2 sa mạc, các thành phố Trung Quốc còn đang bị đe dọa bởi các bãi rác. Xung quanh Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân và Trùng Khánh có không dưới 7.000 bãi rác. 70% tổng số máy tính và máy móc văn phòng khác bị vứt bỏ trên thế giới là ở Trung Quốc, nơi dân chúng sở tại, chủ yếu là trẻ em đang cố moi từ chúng các mẩu kim loại quý.

Một số thành phố trên biên giới với Hongkong đã biến thành các bãi rác hàng điện tử. Các kết luận mà Karl Gerth đưa ra rất bi quan. Nền kinh tế thế giới đang chờ đợi sự tăng trưởng tiếp tục từ Trung Quốc. Nhưng ít ai nghĩ, sự tăng trưởng đó đang dẫn đến đâu. Bởi lẽ, Trung Quốc không phải là một hệ thống cô lập, có nghĩa là các thảm họa sinh thái của họ kiểu gì cũng đụng chạm đến cả thế giới còn lại.

Vị giáo sư cũng rất nghi ngờ khả năng nền dân chủ và đi cùng với nó là sự cở mở và công khai sẽ giải quyết được các vấn đề đang tồn tại ở Trung Quốc. Chủ yếu là vì dân chúng các nước đã quen đưa các chất thải và rác của mình sang thế giới thứ ba, sang chính Trung Quốc nêu ra ý kiến như vậy. Bởi lẽ, nền dân chủ của họ không cấm họ làm việc đó.

Như thế, Trung Quốc đang tiêu lạm "mau lẹ" tương lai của chính mình. Và hiện tại, không thế hiểu cái gì có thể làm dừng quá trình này.

  • Nguồn: Trung Quốc gặt hái hậu quả của sự đi đầu / Svetlana Smetanina // Pravda, 17.4.2012.

Thứ Ba, 7 tháng 5, 2013

Tính toán trường sóng, nước dâng và ngập lụt do bão gây ra ở ven biển miền Trung

http://www.rimf.org.vn/bantin/tapchi_newsdetail.asp?TapChiID=37&muctin_id=2&news_id=2594
Kết quả bước đầu tính toán trường sóng, nước dâng và ngập lụt do bão gây ra ở ven biển miền Trung  				

1. MỞ ĐẦU

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một trong năm ổ bão của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, thường xuyên phải đối mặt với các loại hình thiên tai. Trong những năm qua, thiên tai xảy ra ở khắp các khu vực trên cả nước, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế - xã hội... So với miền Bắc và miền Nam, miền Trung là nơi thường chịu thiệt hại nặng nề nhất do các tác động của thiên tai, bão lũ..., đặc biệt là khu vực ven biển. Cùng với các tác động của gió mạnh, mưa lớn... các hiện tượng thiên tai do bão gây ra, như sóng lớn, nước dâng, ngập lụt... đã gây thiệt hại nặng nề về người và của, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển các ngành kinh tế; đặc biệt là ngành Nông nghiệp, thuỷ sản.

Một số kết quả tính toán của trường sóng, nước dâng và ngập lụt do bão gây ra được giới thiệu sau đây, là nội dung cơ bản của đề tài: "Nghiên cứu tác động của bão và các hiện tượng kèm theo đối với hệ thống cầu cảng, khu neo đậu tàu thuyền và khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung ở Trung Trung bộ" do Viện Nghiên cứu Hải sản chủ trì thực hiện trong 2 năm (2008 - 2009).

2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu chung cho các địa phương ven biển Trung bộ, từ Quảng Bình đến Khánh Hoà; Một số kết quả tính toán chi tiết cho 05 khu vực: cửa Thuận An, cửa Tư Hiền (Thừa Thiên – Huế); cửa sông Hàn – âu tàu Thọ Quang (Đà Nẵng); vịnh Xuân Đài và của sông Đà Rằng (Phú Yên).

2.2. Phương pháp nghiên cứu

1. Phương pháp điều tra, thu thập và xử lý, thống kê thông tin số liệu : các loại số liệu được thu thập, xử lý gồm:

- Bộ số liệu bão và nước dâng bão: thu thập từ Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển, Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương, Viện Cơ học; Tư liệu về bão của các tổ chức: Cục Đại dương và khí quyển quốc gia của Mỹ (NOAA), Tổ chức khí tượng Nhật Bản (JMA)...

- Số liệu thực đo về nước dâng bão được thu thập tại một số trạm thủy- hải văn cửa sông, ven biển, khu vực nghiên cứu để đánh giá độ tin cậy kết quả tính toán mô phỏng.

- Số liệu chi tiết về thuỷ văn, địa hình tại một số khu vực tập trung các công trình thuỷ sản (cảng cá, âu tàu...);

- Số liệu về đặc điểm, các yếu tố bão của các cơn bão đổ bộ và ảnh hưởng trực tiếp tới khu vực ven biển miền Trung... cung cấp số liệu đầu vào cho tính toán, hiệu chỉnh, thẩm định các mô hình dự báo sóng, nước dâng và ngập lụt.

2. Phương pháp mô hình số trị: sử dụng các mô hình để tính toán quá trình và tác động của bão, áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) đối với vùng ven bờ, với nhiều kịch bản khác nhau, gồm:

2.1.Mô hình dự báo sóng: Sử dụng mô hình dự báo sóng ngoài khơi WAM và mô hình dự báo sóng ven bờ SWAN (Simulating Waves Nearshore)... do Viện Khí tượng Max-Planck Hamburg (Đức) thiết lập; để tính toán dự báo sóng trong bão cho khu vực trung Trung Bộ. Đây là các mô hình có mã nguồn mở, hiện nay các mô hình này đang được sử dụng trong công tác dự báo nghiệp vụ sóng biển tại Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương và nhiều cơ quan nghiên cứu trong nước.

2.2. Hệ mô hình dự báo nước dâng do bão DELFT3D - FLOW do viện Thủy lực Delft Hydraulics - Hà Lan xây dựng. Đây là mô hình có khả năng tính toán đồng thời và dự báo thuỷ triều và nước dâng do bão với độ tin cậy cao. Để tính nước dâng do bão bằng mô hình DELFT3D - FLOW còn sử dụng các mô hình phối hợp, là: Mô hình rối và Mô hình khí tượng (WES)

2.3. Mô hình tính ngập lụt do nước dâng bão: Sử dụng và cải tiến mô hình CTS (mô hình dự báo nước dâng bão do Cục Hải dương - Trung Quốc xây dựng) với biên di động; đã lựa chọn các tham số phù hợp tính toán chi tiết cho 05 vùng trọng điểm là: Thuận An, Tư Hiền - Thừa Thiên Huế, Thọ Quang - Đà Nẵng, Vịnh Xuân Đài và cửa Đà Rằng - Phú Yên, những nơi này có số liệu địa hình trên cạn đủ chi tiết và đáng tin cậy.

Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp khác, như: phương pháp chuyên gia: thông qua các hội nghị hội thảo, tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm, tư vấn, đánh giá các kết quả nghiên cứu, ứng dụng...và các phần mềm tiện ích, công nghệ thông tin, công nghệ GIS và viễn thám... để phục vụ tính toán, xử lý số liệu, xây dựng các bản đồ.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm của bão, áp thấp nhiệt đới và lũ ở ven biển miền Trung

+ Số lượng các cơn bão: Trung bình hàng năm nước ta chịu ảnh hưởng của 5 – 6 cơn bão và ATNĐ, trong đó miền Trung hứng chịu khoảng 3 – 4 cơn. Thống kê từ số liệu của Trung tâm Khí tượng - Thuỷ văn Quốc gia từ năm 1961 – 2007 thì cả nước ta phải hứng chịu khoảng 223 cơn bão, ATNĐ. Cũng trong thời gian này, số cơn bão, ATNĐ ảnh hưởng đến miền Trung là 143 cơn bão, ATNĐ (118 cơn bão, 25 cơn ATNĐ), chiếm khoảng 64,13% tổng số các cơn bão, ATNĐ ảnh hưởng đến Việt Nam.

+ Mùa bão: Mùa bão, ATNĐ ở miền Trung bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 12 và thường trùng với mùa mưa, tập trung chủ yếu vào các tháng 8, 9, 10, 11, trong đó xuất hiện nhiều nhất vào các tháng 9 và 10. Cá biệt có năm vào tháng 4 (năm 1971, Bình Định và Quảng Ngãi), tháng 5 (năm 1989, Quảng Ngãi) bão, ATNĐ đã xuất hiện.

+ Sức gió trong bão: Theo số liệu thống kê từ năm 1961 đến năm 2007 cho thấy sức gió trong bão thường gặp ở miền Trung là cấp 7 tương ứng với vận tốc gió từ 50 – 61 km/h, chiếm 17,80% tổng số cơn bão xuất hiện trong thời gian này; tiếp theo là bão cấp 8 (62 – 74 km/h) chiếm 16,93%; bão cấp 9 (75 – 88 km/h) chiếm 13,56%. Các cơn bão mạnh cấp 11 (103 – 117 km/h), cấp 12 (118 – 133 km/h) lần lượt chiếm 7,63% và 9,32%. Các cơn bão siêu mạnh cấp 13 và trên cấp 13 (vận tốc gió lớn hơn 133 km/h) chiếm tỷ lệ 7,63%; điển hình là các cơn bão: bão CHARLOTTE (tháng 9/1962), JANE (tháng 07/1971) tại Thanh Hoá, bão CALARA (tháng 10/1964), DAN (tháng 10/1989) tại Nghệ An, ROSE (tháng 8/1968) tại Hà Tĩnh, XANGSANE (tháng 10/2006) tại Đà Nẵng....

+ Đường đi của bão: Các cơn bão và ATNĐ đổ bộ hoặc ảnh hưởng trực tiếp tới miền Trung thường hình thành ở Tây Thái Bình Dương hoặc xuất hiện ngay trên biển Đông; khi di chuyển và đổ bộ vào ven biển miền Trung thường từ hướng Đông, Đông Đông Nam; một số it có hướng Đông Đông Bắc và Đông Bắc.

+ Đặc điểm sóng trong bão: Theo số liệu quan trắc, sóng bão tại miền Trung là rất lớn, tại vùng tâm bão có thể lên đến hàng chục mét. Độ cao sóng bão của cơn bão BETH (1996) tại vùng biển ngoài khơi Trung bộ - nơi cơn bão đi qua đạt giá trị 7,9 – 9,6m; cơn bão ChanThu (2004) khi gần đổ bộ vào bờ các tỉnh miền Trung đã gây ra các đợt sóng biển có độ cao lên tới 10 – 13m; Độ cao sóng cực đại trong cơn bão LEKIMA (đổ bộ các tỉnh từ Nghệ An đến Quảng Bình vào 10/2007) tính được là 14m.

+ Mưa trong bão và lũ lụt: Mưa rất lớn do bão và ATNĐ ở miền Trung là nguyên nhân tạo ra nhiều đợt lũ lụt lịch sử, gây tổn thất to lớn về người và tài sản. Riêng lượng nước mưa vào ngày 2/11/1999 tại Huế là 1.384 mm, làm mực nước sông Hương lên cao gần 6m, gây ra một trận đại hồng thuỷ với sức tàn phá kinh khủng mà hậu quả của nó để lại phải vài chục năm sau mới khôi phục nổi. Cơn bão số 11 (tháng 11/2009) đã gây mưa lớn trên diện rộng; hầu hết các tỉnh từ Quảng Bình đến Khánh Hoà bộ đều có lượng mưa trung bình 200 - 400mm, đã gây đợt lũ lớn lịch sử, làm tổn thất nặng nề về người và tài sản cho các tỉnh Nam Trung bộ (đặc biệt là các tỉnh Phú Yên, Bình Định...).

3.2. Kết quả nghiên cứu, dự báo sóng, nước dâng và ngập lụt do bão gây ra đối với ven biển miền Trung

Cơ sở số liệu đầu vào cho hiệu chỉnh, thẩm định các mô hình để tính toán dự báo sóng, nước dâng và khả năng ngập lụt do bão…là những kịch bản bão thực tế đã xảy ra (với những tham số bão được theo dõi và quan trắc). Với 10 kịch bản bão thực tế là:

- Kịch bản 1: Bão Wilma (1952)
- Kịch bản 2: Bão Kate (1970)
- Kịch bản 3: Bão Cecil (1985)
- Kịch bản 4: Bão Betty (1987)
- Kịch bản 5: Bão Angena (1989)
- Kịch bản 6: Bão Becky (1990)
- Kịch bản 7: Bão Dan (1995)
- Kịch bản 8: Bão Zack (1995)
- Kịch bản 9: Bão Durian (2006)
- Kịch bản 10: Bão Xangsane (2006)

Ngoài ra, còn xây dựng một số kịch bản giả định bão hoạt động trong vùng biển trung Trung Bộ với cường độ, tốc độ di chuyển và quỹ đạo khác nhau. Từ đó, tiến hành tính toán và đưa ra các bản đồ trường sóng, độ cao nước dâng, và diện tích ngập lụt do bão cho toàn vùng ven biển miền Trung; dự báo chi tiết cho 05 khu vực ven biển, là: Cửa Thuận An, Tư Hiền - Thừa Thiên Huế, Thọ Quang - Đà Nẵng và Vịnh Xuân Đài, cửa Đà Rằng - Phú Yên.

3.2.1. Kết quả nghiên cứu, tính toán dự báo sóng trong bão

+ Kịch bản bão thực tế: Kết quả tính cho 10 kịch bản bão thực tế, cho thấy: độ cao sóng lớn nhất khi bão hoạt động ở ven biển Trung bộ lên tới 12,5 - 13,0m (bão Cecil - 1985 và Betty - 1987). Hầu hết ven biển các tỉnh miền Trung đều có độ cao sóng trung bình trên 3,0m. Riêng các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Ngãi, độ cao sóng do bão trung bình thường là trên 5,0m. Các khu vực ven biển trung Trung bộ (từ Quảng Trị đến Bình Định), độ cao sóng bão nhỏ nhất cũng xấp xỉ 2,0m.

+ Kịch bản bão giả định: Kết quả tính toán với 04 kịch bản bão giả định cho thấy:với bão từ cấp 10 trở lên, độ cao sóng ở khu vực gần tâm bão đi qua, thường trong khoảng 6,0 - 7,0m, có nơi tới 11,m. Các khu vực ven biển chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão đổ bộ, chỉ cần bão cấp 10, độ cao sóng đã đạt tới 4,0 - 6,0m; Đặc biệt, với những cơn bão có cường độ mạnh, thì độ cao sóng trong phạm vi ảnh hưởng bão rất lớn (từ 8,0 - 9,0m).

3.2.2. Kết quả nghiên cứu, tính toán dự báo nước dâng trong bão

+ Kịch bản bão thực tế: Kết quả tính cho 10 kịch bản bão thực tế, cho thấy: Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa có mức nước dâng do bão thấp nhất (dưới 50cm). Các tỉnh còn lại đều có mức nước dâng bão trung bình từ trên 50cm tới trên 100cm. Đặc biệt, các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, độ cao nước dâng bão lớn nhất đạt tới trên 200cm, trung bình cũng xấp xỉ 100cm

+ Kịch bản bão giả định: Các kịch bản bão giả định, được chia theo 04 nhóm với các hướng di chuyển chủ yếu là hướng Tây (Nhóm 1), hướng Tây Tây Bắc (Nhóm 2), hướng Tây Bắc (Nhóm 3) và hướng Tây Tây Nam (Nhóm 4)

Kết quả tính toán dự báo nước dâng cho thấy: Các khu vực từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi là nơi thường xuyên có nước dâng (từ trên 50cm đến trên 100cm) khi bão đổ bộ; nước dâng bão cao nhất là khu vực Quảng Bình - Đà Nẵng (170 - 300cm).

3.2.3. Kết quả nghiên cứu tính toán dự báo ngập lụt do bão

Trên cơ sở tính toán trường sóng và nước dâng bão với 10 kịch bản bão thực tế (từ năm 1952 - 2006), đã tính toán khả năng ngập lụt do các cơn bão này gây ra cho các tỉnh ven biển miền Trung; đồng thời, tính toán chi tiết diện tích ngập lụt cho 05 khu vực nghiên cứu là: Thọ Quang - Đà Nẵng, Thuận An, Tư Hiền - Thừa Thiên Huế; vịnh Xuân Đài, cửa Đà Rằng - Phú Yên (Hình 1, Bảng 1).

Hình 1. Bản đồ ngập lụt do nước dâng bão khu vực Thuận An tỉnh Thừa Thiên Huế (cơn bão CELCIL - 1985)          Diện tích ngập lụt: 170.87 km2

Như vậy, hầu hết các cơn bão đổ bộ vào miền Trung đều có khả năng gây ngập lụt vùng ven biển do sóng và nước dâng bão ở mức độ khác nhau. Với 05 khu vực được tính toán chi tiết, thì cửa Thuận An - Thừa Thiên Huế là nơi có diện tích ngập lụt lớn nhất (tới trên 200km2), đặc biệt khi các cơn bão ảnh hưởng trực tiếp tới khu vực này.

Bảng 1. Diện tích ngập lụt do bão gây ra tại một số khu vực ven biển miền Trung

Kịch bản

Diện tích ngập lụt (km2)

Cửa sông Đà Rằng (Phú Yên)

Vịnh Xuân Đài (Phú Yên)

Thọ Quang Đà Nẵng

Thuận An  (Thừa Thiên Huế)

Tư Hiền  (Thừa Thiên Huế)

Kịch bản 1: Bão Wilma (1952)

7,19

9,92

8,31

223,03

26,16

Kịch bản 2: Bão Kate (1970)

7,48

10,12

8,64

208,64

29,06

Kịch bản 3: Bão Cecil (1985)

6,91

9,32

7,65

170,87

23,54

Kịch bản 4: Bão Betty (1897)

9,21

15,87

8,97

205,64

26,74

Kịch bản 5: Bão Angena (1989)

4,80

3,97

2,83

27,82

10,66

Kịch bản 6: Bão Becky (1990)

6,62

8,93

5,02

15,87

7,61

Kịch bản 7: Bão Zack (1995)

5,18

4,56

6,98

184,30

21,08

Kịch bản 8: Bão Dan (1995)

4,75

3,77

2,86

15,39

11,62

Kịch bản 9: Bão Durian (2006)

8,66

12,14

10,04

34,77

9,56

Kịch bản 10: Bão Xangsane (2006)

3,45

10,90

11,64

234,42

46,50

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4. 1. Kết luận

- Hàng năm, trung bình miền Trung hứng chịu khoảng 3 – 4 cơn bão, ATNĐ trong tổng số 5 - 6 cơn bão ảnh hưởng đến nước ta. Mùa bão, ATNĐ bắt đầu từ tháng 6, kết thúc vào tháng 12 và thường trùng với mùa mưa, càng về phía Nam bão, ATNĐ xuất hiện càng muộn dần và kết thúc cũng muộn dần; tần suất và cường độ bão có xu thế giảm dần từ Bắc vào Nam. Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, những năm gần đây, số các cơn bão và ATNĐ đổ vào miền Trung tăng lên rõ rệt và xuất hiện ngày càng nhiều các cơn bão mạnh cấp 11 - cấp 12, trên cấp 12 ...

- Kết quả tính toán bằng mô hình cho các kịch bản bão khác nhau đã chỉ ra, với bão từ cấp 10 trở lên, độ cao sóng ở khu vực gần tâm bão đi qua, thường trong khoảng 6,0 - 7,0m, có nơi tới 11,m; các khu vực ven biển (từ Thừa Thiên Huế - Phú Yên) chỉ cần bão cấp 10, độ cao sóng đã đạt tới 4,0 - 6,0m. Khi bão đổ bộ thường kèm theo nước dâng, nước dâng do bão cao nhất là khu vực Quảng Bình - Đà Nẵng (có thể tới 170 - 300cm). Dưới tác dụng của sóng, thuỷ triều, khu vực ven biển có thể bị ngập lụt do nước dâng với diện tích lớn; điển hình là: cửa Thuận An, có diện tích ngập lụt lớn nhất (tới trên 200km2), tiếp theo là khu vực cửa Tư Hiền (gần 50km2)...

4.2. Kiến nghị

- Đề nghị Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tiếp tục mở rộng phạm vi nghiên cứu, tính toán về sóng, nước dâng và ngập lụt do bão gây ra ở ven biển (cho các khu vực ven biển miền Bắc và bắc Trung Bộ); Tập trung nghiên cứu các hiện tượng kèm theo trong bão kết hợp với các đặc tính của mưa lũ, đặc điểm địa hình, chế độ thuỷ văn từng vùng..., làm cơ sở khoa học cho công tác phòng chống, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, bão lụt gây ra với vùng ven biển Việt Nam.

- Căn cứ vào điều kiện tự nhiên và thực trạng công tác phòng chống bão lũ thời gian qua; các địa phương ven biển trung Trung bộ cần sử dụng kết quả tính toán về sóng, nước dâng và ngập lụt do bão gây ra ở ven biển, kết hợp với những kết quả nghiên cứu lũ, lụt trên các sông, suối, hồ đập... trên cơ sở đó, xây dựng hệ thống quản lý, chủ động đối phó với thiên tai. Với những vùng đã có nghiên cứu chi tiết về tác động của bão, cần lập các bản đồ chi tiết về tác động của sóng, nước dâng do bão, ảnh hưởng của lũ lụt, sạt lở đất và bồi lấp các cửa sông ven biển..../.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Báo cáo Tổng kết khoa học kỹ thuật đề tài: Nghiên cứu tác động của bão và các hiện tượng kèm theo đối với hệ thống cầu cảng, khu neo đậu tàu thuyền và khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung ở trung Trung Bộ. Hải Phòng, 12/2009.

2. Trần Hồng Lam và ctv, 2006. Nước dâng do bão, công tác triển khai dự báo nghiệp vụ tại Việt Nam. Tạp chí KTTV số 543, 03/2006.

3. Masakazu Hikagi. A Guide ta JMA Storm Surge Model. Manila Workshop. Philippines, September 2006.

Trần Lưu Khanh - Trung tâm quốc gia Quan trắc và Cảnh báo Môi trường Biển
Hoàng Trung Thành - Trung tâm Hải văn

(Chơi cho vui) AIRDROP CHAINGE FINANCE - dự án xây dựng ứng dụng ngân hàng số cho mọi người

 Không hiểu lắm về cái này, tuy nhiên thấy quảng cáo khá nhiều, lại chỉ cung cấp vài thông tin cá nhân (mà mấy ông lớn như facebook với goog...