Hiển thị các bài đăng có nhãn Climate Change. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Climate Change. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2020

Sử dụng công cụ tìm kiếm Ecosia, click chuột để cứu Trái Đất!

Nếu kể đến các công cụ tìm kiếm trên thị trường hiện nay, anh em có thể dễ dàng kể đến Google (đương nhiên rồi), DuckDuckGoBing, Baidu,...Tuy nhiên, có một công cụ tìm kiếm mà ít anh em để ý đến nhưng nếu xài qua thì nó rất nhiều điểm hay và thú vị, đó là Ecosia, một công cụ tìm kiếm của Đức. Vì sao nó thú vị và ý nghĩa thì mình sẽ chia sẻ với anh em 10 lí do anh em nên sử dụng Ecosia như một công cụ tìm kiếm mặc định.

Nếu anh em còn nhớ thì ở iOS 14.3 thì Apple đã cho phép người dùng đặt Ecosia là công cụ tìm kiếm mặc định thay cho Google. Ecosia đã tổn tại nhiều năm nay và trụ sở chính của nó được đặt tại Berlin, qua thời gian thì Ecosia đã có những cải tiến nhất định đủ để chúng ta có thể sử dụng, đặc biệt là ý nghĩa cực kì lớn của nó về bảo vệ môi trường. Apple cũng là một hãng sản xuất cực kì quan tâm tới môi trường, vậy thì để xem với Ecosia thì nó sẽ có những điểm gì có thể giúp bảo vệ môi trường như Apple.

Mời anh em xem thêm bài liên quan "Apple phát hành macOS Big Sur 11.1 và iOS 14.3 Release Candidate, lên nào anh em"bấm vào xem


ecosia_plant_trees.jpg

Ecosia thì cũng giống như Google hay DuckDuckGo, nó tạo ra doanh thu từ những cú click chuột và quảng cáo mà người dùng bấm vào trên kết quả tìm kiếm của mình. Tuy nhiên, điều khiến Ecosia khác biệt với các công cụ tìm kiếm còn lại đó là nó dành 80% doanh thu của mình để trồng cây xanh.

Đây là một trong những mục tiêu chính của Ecosia, đó là chống biến đổi khí hậu. Cứ mỗi 45 tìm kiếm mà người dùng thực hiện trên đây, Ecosia sẽ trồng được một cây xanh ở nơi đang thiếu thốn. Ecosia chỉ làm việc với các đối tác trồng cây có đa dạng chủng loài, tạo nên một khu rừng sinh thái đa dạng. Ecosia cũng đảm bảo rằng họ sẽ bảo vệ những cây đã trồng từ những đóng góp của người dùng.


Nghe có vẻ không thuyết phục lắm nhưng để có thể trả về kết quả tìm kiếm của anh em, các data centers phải sử dụng rất nhiều năng lượng. Lượng khí thải carbon được tạo ra và thải vào khí quyển thường là khoảng 0,2 gram carbon cho mỗi truy vấn tìm kiếm. Internet Live Stats báo cáo rằng Google xử lý hơn 1.2 nghìn tỷ lượt tìm kiếm mỗi năm, dẫn đến 240 tỷ gram carbon mỗi năm.

Với việc sử dụng Ecosia, ngừoi dùng có thể giảm lượng thải carbon kĩ thuật số ra môi trường hàng năm. Họ đã xây dựng các nhà máy năng lượng mặt trời của riêng mình ở Đức để cung cấp năng lượng cho máy chủ của họ, sử dụng 100% năng lượng tái tạo để mọi tìm kiếm sẽ không có carbon thải ra môi trường. Hơn nữa, mỗi cây mà họ trồng từ 45 truy vấn tìm kiếm của anh em sẽ loại bỏ 50 kg carbon trong khí quyển trong suốt thời gian tồn tại của nó. Có nghĩa là mỗi lần tìm kiếm sẽ có lượng khí thải carbon âm là 1,1kg.


ecosia_icon_leaves.jpg

Giống như mọi công cụ tìm kiếm khác, Ecosia hoàn toàn miễn phí. Đặc biệt hơn, Ecosia hợp tác với Bing của Microsoft để trả về cùng một kết quả, hình ảnh, tin tức và nhiều thứ khác nữa.

Điểm khác biệt của Ecosia và có thể nói là độc quyền của công cụ này đó là họ sẽ gắn nhãn và biểu tượng chiếc lá xanh hoặc biểu tượng nhiên liệu hoá thạch bên cạnh một số trang web trong kết quả tìm kiếm để bạn đưa ra quyết định tốt hơn. Với biểu tượng chiếc lá xanh sẽ là những trang web hoặc tổ chức thân thiện với hành tinh, còn biểu tượng hoá thạch có nghĩa là một trong những người gây ô nhiễm trên thế giới.


ecosia_browser.jpg

Như đã nói thì Ecosia hỗ trợ rất nhiều nền tảng và có cả browser cho mobile. Chỉ tính riêng người dùng Apple đã tạo ra doanh thu quảng cáo đủ để trồng hơn 7 triệu cây xanh trong năm 2020. Trong khi đó, họ ghi nhận hơn 5 triệu lượt tải xuống trên Google Play Store.

Browser Ecosia có nhiều tính năng hay và đa số đủ dùng cho người dùng, ví dụ như duyệt web an toàn, tìm kiếm nhanh, chặn quảng cáo và tự động điền mật khẩu...Đặc biệt kết quả tìm kiếm trả về trên Ecosia sẽ nhanh hơn các công cụ tìm kiếm khác.


ecosia_privacy.jpg

Không giống như Google thu thập dữ liệu của bạn và sử dụng theo nhiều cách mà người dùng khó có thể tưởng tượng, Ecosia là một công cụ tìm kiếm thân thiện với quyền riêng tư. Họ không lưu trữ các tìm kiếm của anh em nhiều hơn một tuần, cũng như không tạo hồ sơ cá nhân dựa trên dữ liệu của anh em.

Ecosia cũng có tính năng Do Not Track để ngăn Ecosia theo dõi, nhưng Ecosia không sử dụng các công cụ theo dõi của bên thứ ba hoặc một bên nào khác mà sử dụng công cụ theo dõi của riêng mình.


ecosia_datas.jpg


Chính vì người dùng là điều sống còn của chính Ecosia, nên người dùng sẽ yên tâm rằng dữ liệu của họ sẽ không bị rò rỉ cho một bên nào khác. Đặc biệt Ecosia đảm bảo rằng sẽ không bán dữ liệu tìm kiếm của bạn cho bất kì một nhà quảng cáo nào, tất cả các dữ liệu của người dùng đã được mã hoá cẩn thận.


ecosia_financial_report.jpg

Sự minh bạch và thật thà trong những lời nói của mình là điều sống còn của Ecosia, chính vì vậy họ luôn công bố trực tuyến các bản báo cáo tài chính hàng tháng của mình. Trước đó họ đã hứa rằng 80% lợi nhuận từ quảng cáo và những cú click chuột để trồng cây nên họ cần minh bạch trong việc này. Trong bản báo cáo, người dùng sẽ biết họ chi bao nhiêu cho việc trồng cây, người dùng có thể dễ dàng kiểm tra được Ecosia có làm đúng như những gì họ đã hứa hay không. Thậm chí, trong báo cáo còn ghi chi tiết số tiền kiếm được từ quảng cáo và họ đã dùng nó để quảng cáo cũng như trả lương cho nhân viên như thế nào luôn. Quá rõ ràng và rành mạch.


ecosia_jobs.jpg

Nó sẽ tạo một hiệu ứng dây chuyền: Bạn tìm kiếm bằng Ecosia > Ecosia kiếm ra tiền > Ecosia dùng tiền đó đi trồng cây > Ecosia tạo việc làm cho công nhân trồng cây > công nhân trồng cây kiếm được thu nhập ổn định. Ví dụ trong một dự án trồng cây tại Madagascar, Ecosia đã thuê 160 nhân viên toàn thời gian để trồng rừng ngập mặn trên đảo. Ecosia cũng thuê các lính cứu hoả ở Brazil để bảo vệ các cánh rừng hiện có.


ecosia_animals.jpg

Với số tiền Ecosia kiếm được từ các lượt tìm kiếm của anh em, họ có thể khôi phục lại các cánh rừng bị tàn phá tại Uganda, trồng lại các cây bị lâm tặc đốn hạ bất hợp pháp tại đảo Sumatra và khôi phục lại hệ sinh thái rừng tại Madagascar. Những khu vực trên đây đều là nhà của nhiều loại động vật, trong đó có nhiều loại động vật đang trong tình trạng nguy cấp, có nguy cơ bị tuyệt chủng cao. Ví dụ tinh tinh, đười ươi, vượn, cáo...


ecosia_counter_trees.jpg

Ecosia bổ sung cho trình tìm kiếm của mình một bộ đếm, trong đó sẽ nói rõ cho người dùng rằng đã có bao nhiêu cây xanh được trồng từ các lượt tìm kiếm của người dùng. Thậm chí nó còn kích thích nhiều người hòng đẩy con số đó lên càng cao càng tốt, vô hình chung tạo ra thêm nhiều cây xanh hơn nữa.

Nhìn chung, các điều ở trên đều là những lợi ích mà anh em mang lại, phát sinh từ việc tìm kiếm trên công cụ Ecosia này. Anh em có thể thấy được rằng mình đã góp phần vào việc giảm tác động của biến đổi khí hậu đến Trái Đất như thế nào, anh em đã làm một việc tốt rất đơn giản, không cần phải đao to búa lớn gì cả, lại còn chẳng mất gì của anh em hết. Qua đây, mình cũng rủ anh em sử dụng Ecosia để có thể trồng nhiều cây xanh nhất có thể, góp một phần vào việc làm sạch bầu khí quyển của Trái Đất và cứu sống nhiều loại động thực vật đang có nguy cơ bị tuyệt chủng.

Theo Makeuseof.
(tinhte.vn)

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2019

Hủ tục đốt vàng mã: Tự tay châm lửa đốt 16.000 tỉ

Hủ tục đốt vàng mã: Tự tay châm lửa đốt 16.000 tỉ

© Được Lao Dong cung cấp: Bộ VHTT và DL cho rằng: việc các chùa tổ chức dâng sao, giải hạn là sự biến tướng, lợi dụng nhu cầu của người dân để trục lợi (Ảnh LĐ)

 

Trong khi SpaceX đang kỳ vọng sẽ tạo ra những công dân sao Hỏa, những con người đầu tiên được sinh ra ngoài trái đất vào năm 2024 thì "chúng ta" vẫn mải mê dâng sao giải hạn và mỗi năm, đốt không dưới 16.000 tỉ tiền vàng mã, nhân danh tín ngưỡng, "nhu cầu tâm linh".

Trên sàn chứng khoán, có một mã là CAP của Công ty cổ phần Lâm nông sản thực phẩm Yên Bái với các khoản cổ tức có thời điểm lên tới 40-50%. Một tờ báo dẫn báo cáo  của DN này cho biết doanh thu CAP năm 2018 đạt 389 tỉ đồng, tăng 43%; trong đó, vàng mã, giấy đế (giấy làm vàng mã) đã mang về cho CAP doanh thu gần 200 tỉ đồng, tăng 19% so với năm trước đó và chiếm tới 51% doanh thu.

550 triệu doanh thu mỗi ngày của mảng "vàng mã" của chỉ từ một DN (dù tính cả xuất khẩu) dường như đang nói lên nhiều điều.

2016, dựa vào số liệu khảo sát mức sống hộ gia đình của Tổng cục Thống kê, TS Nguyễn Việt Cường, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu cứu phát triển Mêkông tính toán rằng: Nếu năm 2012, bình quân mỗi hộ gia đình tại Việt Nam chi 575.000 đồng cho đồ cúng lễ (chỉ bao gồm tiền mua vàng mã, hương hoa và đồ cúng không phải thực phẩm- tức là không bao gồm bánh kẹo, quả hay thịt cá dùng để cúng lễ), thì tới 2016, mức chi tiêu bình quân đã tăng lên 654.000 đồng.

Và "Nếu nhân con số này với tổng số hộ cả nước của từng năm thì tổng mức chi tiêu cho cúng lễ là khoảng 13.000 tỉ đồng năm 2012 và tăng lên khoảng 16.000 tỉ đồng năm 2016".

16.000 tỉ mang đốt mỗi năm theo đúng nghĩa đen, nhân danh tín ngưỡng và nhu cầu tâm linh. Về mặt kinh tế, đó chính là phí phạm.

Trở lại với câu chuyện thời sự là việc "dâng sao giải hạn", Giáo hội Phật giáo VN đã chính thức có văn bản khẳng định "dâng sao giải hạn" không phải là nghi lễ Phật giáo. Bộ VHTT và DL cũng vừa có công văn nêu rõ: việc các chùa tổ chức dâng sao, giải hạn là sự biến tướng, lợi dụng nhu cầu của người dân để trục lợi; và  đề nghị địa phương có biện pháp chấn chỉnh, xử lý.

Rất khó để có một biện pháp cấm sản xuất hay đốt vàng mã dù nó cũng gây hại và tốn kém chẳng kém gì pháo nổ- đã từng bị cấm, nhưng ít nhất nhà chùa hay các cơ sở Phật giáo hoàn toàn có quyền từ chối việc đốt vàng mã khi từ năm ngoái, Hội đồng trị sự Trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam từng có công văn 031/CV-HĐTS đề nghị tăng ni hướng dẫn đồng bào Phật tử và bà con loại bỏ mê tín dị đoan, đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo và các hình thức khác trái với thuần phong mỹ tục, văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo Việt Nam.

Ít nhất có thể cương quyết nói không đối với những "biến tướng" của nghi lễ, đối với việc "lợi dụng nhu cầu của người dân để trục lợi".

16.000 tỉ mỗi năm đó là tiền thật, là nguồn lực không có lý gì để đem đốt.

©Lao Dong

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

Trái đất nóng vì CO2 hay trò lừa hàng trăm tỷ USD?

Trái đất nóng vì CO2 hay trò lừa hàng trăm tỷ USD?

(Khoa học) - Sự ấm lên của trái đất trong nhiều năm qua có phải do việc con người đốt năng lượng hóa thạch rồi xả khí CO2 ra ngoài môi trường hay không ?

Sau khi trở thành Tổng thống đắc cử của Mỹ, ông Donald Trump đã nhiều lần nhắc tới việc nước Mỹ sẽ rút ra khỏi hiệp định biến đổi khí hậu Paris và tuyên bố biến đổi khí hậu chỉ là một sự lừa đảo không hơn không kém. Nhân sự kiện này chúng ta hãy cùng tìm hiểu về sự thật đã bị che đậy từ lâu nay bởi các chính phủ cánh tả của
Châu Âu và Mỹ (Obama) nhằm mục đích thu lợi hàng trăm tỉ USD của người dân
thông qua những đồng tiền thuế đánh trên khí thải CO2.

Đầu tiên người viết xin khẳng định trái đất nóng lên là hoàn toàn có thật, thế nhưng
nó có phải do con người đốt nhiên liệu hóa thạch sinh ra CO2 rồi làm trái đất nóng lên hay không? Đó là điều còn phải tranh cãi và hiện tại không có bằng chứng nào
khẳng định điều này. Trái đất nóng lên hay lạnh đi là chuyện xảy ra hàng trăm triệu
 năm nay, từ khi con người còn chưa xuất hiện trên trái đất. Đó là chu trình của tự nhiên của trái đất như thời tiết nóng lạnh, ngày đêm xen kẽ vậy.

Biểu đồ mối tương quan nhiệt độ và nồng độ Co2 cách đây 600 triệu năm

Biểu đồdựa trên số liệu nhiệt độ của Tiến Sĩ địa chất học C.R.Scotese Đại học Texas và số liệu nồng độ CO2 của Tiến Sĩ R.Berner trong tài liệu GEOCARB III (đường màu đen là nồng độ CO2 trong môi trường, còn đường màu xanh là nhiệt độ của trái đất) cho thấy khi nồng độ CO2 thay đổi không liên quan ảnh hưởng gì tới việc nhiệt độ thay đổi của trái đất.

Những lừa dối kiểu như nhân loại rằng nồng độ CO2 hiện tại quá cao và gây nguy hiểm cho nhân loại cũng dễ dàng bị chứng minh là vô căn cứ theo biểu đồ nói trên. Vì hiện tại nồng độ CO2 trong khí quyển là 400 ppm, và theo biểu đồ trích dẫn ở trên thì mức này rất thấp so với kỉ Jura cách đây 200 triệu năm (thời kì khủng long) nồng độ CO2 là 1800 ppm, kỉ Cambrian cách đây 600 triệu năm là 7000 ppm; đặc biệt kỉ Carboniferous, Ordovician cách đây 300 triệu năm là 4400 ppm (gấp12 lần hiện tại) ấy thế nhưng nhiệt độ lại ngang ngửa với bây giờ !!!

Dẫn chứng này là bằng chứng hùng hồn nhất phản biện lại bất cứ ai nói CO2 là tác nhân làm trái đất nóng lên.

Nhiệt độ và nồng độ Co2 tính từ thời kì Trung Cổ cho tới bây giờ


Còn dựa trên nghiên cứu của Julia Elbert và Richard Wartenberg đăng trên tập san khoa học "Palaeogeography, Palaeoclimatology, Palaeoecology" tháng 1 năm 2013, có thể thấy, vào thời Trung Cổ mặc dầu nhiệt độ còn cao hơn cả bây giờ, thế nhưng nồng đồ CO2 lại thấp hơn so với mức hiện tại. Do đó, nếu chỉ dựa vào việc nồng độ CO2 tăng cao trong vòng hơn 100 năm công nghiệp hóa trở lại đây với việc nhiệt độ trái đất tăng lên một cách tự nhiên là hoàn toàn sai lầm về khoa học. Theo các nhà khoa học, tương quan CO2 và nhiệt độ chỉ là mối quan hệ liên quan ngẫu nhiên (correlation) chứ không phải nguyên nhân và hệ quả (cause and effect).

Chưa kể, cách đây 5 triệu năm băng Bắc Cực đã tan hết, nhưng mọi sinh vật vẫn phát triển tiến hóa chứ không hề bị tuyệt diệt. Hay hiện tại bất chấp khí hậu nóng lên, bất chấp mọi dự đoán của các nhà "môi trường", nhưng băng Nam Cực lại tăng lên theo báo cáo của Tiến sĩ Habibullo Abdussamatov - lãnh đạo viện nghiên cứu không gian của đài quan sát Pulkovo (trực thuộc viện hàn lâm khoa học Nga)

Băng Nam Cực tăng lên bất chấp mọi dự báo về "hiểm họa băng tan" của các "nhà môi trường"

Người ta cũng từng dự đoán tầng Ozone sẽ thủng do đốt nhiều năng lượng hóa thạch, ấy thế nhưng theo bài báo "Ozone layer hole appears to be healing, scientists say" đăng ngày 30-6-2016 trên tờ "The Guardian" (Anh Quốc) tầng Ozone lại tự phục hồi, bất chấp khí thái nhà kính bơm ra liên tục do đốt năng lượng hóa thạch. 

Tóm lại, kết luận CO2 làm cho trái đất nóng lên có thể là một cú lừa đảo vĩ đại, đặc biệt, kéo theo đó là những quyết định của các nhà chính trị nhằm thu thuế của người dân thông qua việc cắt giảm khí thải nhà kính.

http://baodatviet.vn/khoa-hoc/khoa-hoc/trai-dat-nong-vi-co2-hay-tro-lua-hang-tram-ty-usd-3324405/

 

 

Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

Loài kiến có thể giúp chống biến đổi khí hậu?

http://dantri.com.vn/suc-manh-tri-thuc/loai-kien-co-the-giup-chong-bien-doi-khi-hau-927155.htm

Loài kiến có thể giúp chống biến đổi khí hậu?

Dù kích thước cơ thể vô cùng nhỏ bé và chỉ sống chừng 3 tháng, nhưng loài kiến có thể là chìa khóa giúp con người đối phó với tình trạng biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng hiện nay.

Kiến đã làm biến đổi hai khoáng chất  olivine và plagioclase trong cát và quá trình này giúp nhốt giữ chất CO2 độc hại vào đá. Ảnh: ASU

Những con kiến thợ cần mẫn được phát hiện có khả năng làm biến đổi các hóa chất trong cát để sản sinh canxi cácbonat, hay còn gọi là đá vôi. Quá trình này nhốt giữ cácbon điôxit (CO2) trong đá và rốt cuộc loại bỏ chất độc hại này khỏi bầu khí quyển, giúp kìm giữ tình trạng biến đổi khí hậu Trái đất ngày càng nghiêm trọng hiện nay.

Giáo sư Ronald Dorn đến từ Đại học Tempe (Arizona, Mỹ) là người đã khám phá ra điều kỳ diệu trên. Ông đã chôn cát tại 6 địa điểm thuộc dãy núi Catalina ở bang Arizona và hẻm núi Palo Duro thuộc bang Texas cách đây 25 năm.

Cứ 5 năm, giáo sư Dorn lại tiến hành đo lượng khoáng chất olivine và plagioclase phân rã trong cát. Ông phát hiện, kiến đã giúp phân hủy các khoáng chất này nhanh gấp 300 lần so với tốc độ phân rã tự nhiên trong cát không chịu tác động của chúng.

Giáo sư Dorn hiện vẫn chưa biết chính xác cách thức loài kiến biến đổi hai khoáng chất olivine và plagioclase. Tuy nhiên, ông tin rằng, các con kiến đã thu thập canxi và magiê, rồi sử dụng những nguyên tố này để tạo thành đá vôi. Sự biến đổi có thể xảy ra khi các con kiến liếm các hạt cát nhằm kết dính chúng vào các bức tường của tổ kiến.

Hiện cũng có giả thuyết cho rằng, đá vôi có thể được tạo ra từ vi khuẩn ở đường ruột của kiến trước khi chúng được bài tiết ra ngoài.

Quá trình này tương tự sự cô lập CO2 trong tự nhiên, khi cây cối và các đại dương trên Trái đất giúp chuyển hóa hoặc bắt nhốt khí CO2 do động vật, cấy cối và con người phát thải ra.

Trên thế giới hiện cũng đang có các dự án cô lập CO2 nhân tạo, bao gồm cả việc cố tình nhốt giữ CO2 trong đất. Một phương pháp đề xuất là dồn CO2 xuống sâu trong đại dương, hình thành các hồ khí. Những khí này sẽ ở nguyên chỗ do áp suất và nhiệt độ của nước xung quanh và dần dần phân rã theo thời gian.

Một phương pháp khác là cô lập địa chất, trong đó CO2 được bơm xuống các phóng chứa dưới mặt đất hoặc vào những khu vực chứa đầy canxi và magiê. CO2 sẽ phản ứng với 2 chất này để hình thành đá vôi và magiê cácbonat. Đây cũng là phương pháp mà loài kiến đang tiến hành một cách tự nhiên, giáo sư Dorn nhận định.

Dẫu vậy, giáo sư Dorn tuyên bố hiện chưa rõ loài kiến loại bỏ được bao nhiêu cácbon trong bầu khí quyển. Ông đã cho đăng toàn bộ khám phá mới trên tạp chí Geology.

Hồi đầu tháng này, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học East Anglia (Anh) cũng phát hiện, các con kiến xén lá có thể cứu mạng người nhờ một loại kháng sinh tự nhiên mà chúng ta ra. Công trình nghiên cứu mang tính tiên phong này tập trung vào một loại nấm nhất định là thức ăn của kiến xén lá và cách chúng sản sinh kháng thể tự nhiên để bảo vệ nấm.

Theo VietNamNet/Daily Mail, Live Science

 

Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2013

Khởi công xây đập thủy điện Hạ Se San 2 gây tranh cãi


Khởi công xây đập thủy điện Hạ Se San 2 gây tranh cãi

(LĐO) - Thứ tư 08/05/2013 10:45

    Việc dự án khổng lồ về thủy điện - đập Hạ Se San 2 - của Campuchia bắt đầu khởi động đang gây nhiều tranh cãi, bởi sẽ ảnh hưởng đến mưu sinh của hàng triệu người dựa vào sông Mêkông để sinh tồn.

    Đập thủy điện Hạ Se San 2 có công suất 400 megawatt. Tháng trước, công nhân bắt đầu chuẩn bị một khu vực ở vùng đông bắc Campuchia cho dự án khổng lồ về thủy điện này. Theo đó, hàng ngàn người sống trong những khu vực sẽ bị ngập dưới hồ chứa nước rộng 300 kilômét vuông đã được thông báo phải di dời.

    Ðập nước dài khoảng 8km với kinh phí 800 triệu USD trên con sông Se San, một nhánh chính của sông Mêkông, sẽ phải mất 5 năm để xây.

    Thiệt hại nặng về thủy sản

    Những người không ủng hộ dự án nói rằng tổn phí thực sự của đập nước này chính là việc hàng triệu người mưu sinh và dựa vào nguồn cá để có được protein sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Tại Campuchia, cá chiếm tới 80 phần trăm nguồn protein động vật của người dân.

    Người dân Campuchia ăn nhiều cá nước ngọt hơn bất cứ người dân nước nào trên thế giới- theo ông Erin Baran - nhà nghiên cứu cấp cao của WorldFish, một tổ chức độc lập nghiên cứu về an ninh lương thực.

    Các nhà khoa học ước lượng, đập số 2 ở hạ nguồn sông Se San có thể làm cho tổng sản lượng cá trong vùng châu thổ sông Mêkông giảm đi 9,3 phần trăm.

    "Như thế có nghĩa là 9,3 phần trăm của 2,1 triệu tấn - một con số khổng lồ. Nói cách khác, sự thất thu theo dự kiến là khoảng 200 ngàn tấn mỗi năm, cao hơn nhiều so với toàn bộ khu vực hải sản của Australia và cao gấp 9 lần so với sản lượng cá trong lục địa đánh bắt được ở Ðức hay ở Mỹ"- ông Baran cho biết thêm.

    Các nhà khảo cứu nhận cho hay, trong số hàng chục đập trên những nhánh sông dự kiến sẽ xây ở Lào, Việt Nam và Campuchia, đập Hạ Se San 2 tính đến nay gây thiệt hại nhiều nhất cho ngư nghiệp.

    Đập Hạ Se San 2 thuộc hạ nguồn giao điểm của 2 trong số 3 con sông lớn là sông Se San và sông Sêrêpôk. Bức tường dài 8km của đập nước sẽ ngăn loài cá thiên di - vốn chiếm 40 phần trăm tất cả loài cá trong hệ thống sông ngòi này - không đến được thượng nguồn để đẻ trứng.

    Sẽ còn nhiều tác động xấu

    Cuộc khảo cứu cũng phát hiện là đập Hạ Se San 2 sẽ giảm thiểu từ 6 đến 8 phần trăm lưu lượng phù sa giàu chất dinh dưỡng, là nguồn cấp thiết để chăm bón cho những cánh đồng lúa nhỏ của hàng trăm ngàn người sống ở mức chỉ đủ để tồn tại.

    Ông Pa Tou- 37 tuổi, một trong những người phải di dời khỏi khu vực lòng hồ- cho hay, không có ai trong số 400 gia đình thuộc dân tộc thiểu số ở xã Srekor trên bờ sông Se San muốn rời bỏ khu này.

    Ông Pa Tou nói rằng đập nước sẽ khiến họ mất hết - những cánh đồng, những mảnh vườn trồng cây và nhà cửa. Hiện nay, họ có thể trồng đủ lúa trong 1 năm để tự nuôi sống cho năm tiếp theo và họ có thể nuôi một số gia súc để ăn thịt và để bán.

    3 người con gái của ông Pa Tou cho biết sẽ không còn các điều kiện như thế ở địa điểm định cư mới, cách con sông hàng kilômét. Ông Pa Tou cho biết, đất ở đó rất cằn cỗi không trồng trọt được - phần lớn là đá sỏi hay đầy cây lớn, không có y tế và trường học.

    Cuộc khảo cứu cảnh báo rằng một loạt các đập nước trên dòng chính dự định xây ở Lào và Campuchia sẽ còn gây những tác động tệ hại hơn nữa, có thể tới "75 phần trăm lượng phù sa sẽ bị các đập này chặn lại".

    Do đó, các nước xây đập trên dòng chính của sông Mêkông trước hết phải thực hiện các cuộc nghiên cứu chi tiết về tác động để đo lường xem những đập này ảnh hưởng như thế nào.

    Bà Ame Trandem- Giám đốc Chương trình Ðông Nam Á của các Dòng sông quốc tế, một tổ chức độc lập về môi trường - nói rằng việc đánh giá tác động đối với môi trường của đập Hạ Se San 2 "hoàn toàn thiếu sót" và Chính phủ Campuchia cần xem xét lại.

    Theo VOA


      Sent from
      my iPad

      Thứ Ba, 7 tháng 5, 2013

      Tính toán trường sóng, nước dâng và ngập lụt do bão gây ra ở ven biển miền Trung

      http://www.rimf.org.vn/bantin/tapchi_newsdetail.asp?TapChiID=37&muctin_id=2&news_id=2594
      Kết quả bước đầu tính toán trường sóng, nước dâng và ngập lụt do bão gây ra ở ven biển miền Trung  				

      1. MỞ ĐẦU

      Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một trong năm ổ bão của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, thường xuyên phải đối mặt với các loại hình thiên tai. Trong những năm qua, thiên tai xảy ra ở khắp các khu vực trên cả nước, gây ra nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, các cơ sở hạ tầng về kinh tế - xã hội... So với miền Bắc và miền Nam, miền Trung là nơi thường chịu thiệt hại nặng nề nhất do các tác động của thiên tai, bão lũ..., đặc biệt là khu vực ven biển. Cùng với các tác động của gió mạnh, mưa lớn... các hiện tượng thiên tai do bão gây ra, như sóng lớn, nước dâng, ngập lụt... đã gây thiệt hại nặng nề về người và của, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển các ngành kinh tế; đặc biệt là ngành Nông nghiệp, thuỷ sản.

      Một số kết quả tính toán của trường sóng, nước dâng và ngập lụt do bão gây ra được giới thiệu sau đây, là nội dung cơ bản của đề tài: "Nghiên cứu tác động của bão và các hiện tượng kèm theo đối với hệ thống cầu cảng, khu neo đậu tàu thuyền và khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung ở Trung Trung bộ" do Viện Nghiên cứu Hải sản chủ trì thực hiện trong 2 năm (2008 - 2009).

      2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

      2.1. Phạm vi nghiên cứu

      Phạm vi nghiên cứu chung cho các địa phương ven biển Trung bộ, từ Quảng Bình đến Khánh Hoà; Một số kết quả tính toán chi tiết cho 05 khu vực: cửa Thuận An, cửa Tư Hiền (Thừa Thiên – Huế); cửa sông Hàn – âu tàu Thọ Quang (Đà Nẵng); vịnh Xuân Đài và của sông Đà Rằng (Phú Yên).

      2.2. Phương pháp nghiên cứu

      1. Phương pháp điều tra, thu thập và xử lý, thống kê thông tin số liệu : các loại số liệu được thu thập, xử lý gồm:

      - Bộ số liệu bão và nước dâng bão: thu thập từ Trung tâm Khí tượng Thủy văn Biển, Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương, Viện Cơ học; Tư liệu về bão của các tổ chức: Cục Đại dương và khí quyển quốc gia của Mỹ (NOAA), Tổ chức khí tượng Nhật Bản (JMA)...

      - Số liệu thực đo về nước dâng bão được thu thập tại một số trạm thủy- hải văn cửa sông, ven biển, khu vực nghiên cứu để đánh giá độ tin cậy kết quả tính toán mô phỏng.

      - Số liệu chi tiết về thuỷ văn, địa hình tại một số khu vực tập trung các công trình thuỷ sản (cảng cá, âu tàu...);

      - Số liệu về đặc điểm, các yếu tố bão của các cơn bão đổ bộ và ảnh hưởng trực tiếp tới khu vực ven biển miền Trung... cung cấp số liệu đầu vào cho tính toán, hiệu chỉnh, thẩm định các mô hình dự báo sóng, nước dâng và ngập lụt.

      2. Phương pháp mô hình số trị: sử dụng các mô hình để tính toán quá trình và tác động của bão, áp thấp nhiệt đới (ATNĐ) đối với vùng ven bờ, với nhiều kịch bản khác nhau, gồm:

      2.1.Mô hình dự báo sóng: Sử dụng mô hình dự báo sóng ngoài khơi WAM và mô hình dự báo sóng ven bờ SWAN (Simulating Waves Nearshore)... do Viện Khí tượng Max-Planck Hamburg (Đức) thiết lập; để tính toán dự báo sóng trong bão cho khu vực trung Trung Bộ. Đây là các mô hình có mã nguồn mở, hiện nay các mô hình này đang được sử dụng trong công tác dự báo nghiệp vụ sóng biển tại Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương và nhiều cơ quan nghiên cứu trong nước.

      2.2. Hệ mô hình dự báo nước dâng do bão DELFT3D - FLOW do viện Thủy lực Delft Hydraulics - Hà Lan xây dựng. Đây là mô hình có khả năng tính toán đồng thời và dự báo thuỷ triều và nước dâng do bão với độ tin cậy cao. Để tính nước dâng do bão bằng mô hình DELFT3D - FLOW còn sử dụng các mô hình phối hợp, là: Mô hình rối và Mô hình khí tượng (WES)

      2.3. Mô hình tính ngập lụt do nước dâng bão: Sử dụng và cải tiến mô hình CTS (mô hình dự báo nước dâng bão do Cục Hải dương - Trung Quốc xây dựng) với biên di động; đã lựa chọn các tham số phù hợp tính toán chi tiết cho 05 vùng trọng điểm là: Thuận An, Tư Hiền - Thừa Thiên Huế, Thọ Quang - Đà Nẵng, Vịnh Xuân Đài và cửa Đà Rằng - Phú Yên, những nơi này có số liệu địa hình trên cạn đủ chi tiết và đáng tin cậy.

      Ngoài ra, còn sử dụng một số phương pháp khác, như: phương pháp chuyên gia: thông qua các hội nghị hội thảo, tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm, tư vấn, đánh giá các kết quả nghiên cứu, ứng dụng...và các phần mềm tiện ích, công nghệ thông tin, công nghệ GIS và viễn thám... để phục vụ tính toán, xử lý số liệu, xây dựng các bản đồ.

      3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

      3.1. Đặc điểm của bão, áp thấp nhiệt đới và lũ ở ven biển miền Trung

      + Số lượng các cơn bão: Trung bình hàng năm nước ta chịu ảnh hưởng của 5 – 6 cơn bão và ATNĐ, trong đó miền Trung hứng chịu khoảng 3 – 4 cơn. Thống kê từ số liệu của Trung tâm Khí tượng - Thuỷ văn Quốc gia từ năm 1961 – 2007 thì cả nước ta phải hứng chịu khoảng 223 cơn bão, ATNĐ. Cũng trong thời gian này, số cơn bão, ATNĐ ảnh hưởng đến miền Trung là 143 cơn bão, ATNĐ (118 cơn bão, 25 cơn ATNĐ), chiếm khoảng 64,13% tổng số các cơn bão, ATNĐ ảnh hưởng đến Việt Nam.

      + Mùa bão: Mùa bão, ATNĐ ở miền Trung bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 12 và thường trùng với mùa mưa, tập trung chủ yếu vào các tháng 8, 9, 10, 11, trong đó xuất hiện nhiều nhất vào các tháng 9 và 10. Cá biệt có năm vào tháng 4 (năm 1971, Bình Định và Quảng Ngãi), tháng 5 (năm 1989, Quảng Ngãi) bão, ATNĐ đã xuất hiện.

      + Sức gió trong bão: Theo số liệu thống kê từ năm 1961 đến năm 2007 cho thấy sức gió trong bão thường gặp ở miền Trung là cấp 7 tương ứng với vận tốc gió từ 50 – 61 km/h, chiếm 17,80% tổng số cơn bão xuất hiện trong thời gian này; tiếp theo là bão cấp 8 (62 – 74 km/h) chiếm 16,93%; bão cấp 9 (75 – 88 km/h) chiếm 13,56%. Các cơn bão mạnh cấp 11 (103 – 117 km/h), cấp 12 (118 – 133 km/h) lần lượt chiếm 7,63% và 9,32%. Các cơn bão siêu mạnh cấp 13 và trên cấp 13 (vận tốc gió lớn hơn 133 km/h) chiếm tỷ lệ 7,63%; điển hình là các cơn bão: bão CHARLOTTE (tháng 9/1962), JANE (tháng 07/1971) tại Thanh Hoá, bão CALARA (tháng 10/1964), DAN (tháng 10/1989) tại Nghệ An, ROSE (tháng 8/1968) tại Hà Tĩnh, XANGSANE (tháng 10/2006) tại Đà Nẵng....

      + Đường đi của bão: Các cơn bão và ATNĐ đổ bộ hoặc ảnh hưởng trực tiếp tới miền Trung thường hình thành ở Tây Thái Bình Dương hoặc xuất hiện ngay trên biển Đông; khi di chuyển và đổ bộ vào ven biển miền Trung thường từ hướng Đông, Đông Đông Nam; một số it có hướng Đông Đông Bắc và Đông Bắc.

      + Đặc điểm sóng trong bão: Theo số liệu quan trắc, sóng bão tại miền Trung là rất lớn, tại vùng tâm bão có thể lên đến hàng chục mét. Độ cao sóng bão của cơn bão BETH (1996) tại vùng biển ngoài khơi Trung bộ - nơi cơn bão đi qua đạt giá trị 7,9 – 9,6m; cơn bão ChanThu (2004) khi gần đổ bộ vào bờ các tỉnh miền Trung đã gây ra các đợt sóng biển có độ cao lên tới 10 – 13m; Độ cao sóng cực đại trong cơn bão LEKIMA (đổ bộ các tỉnh từ Nghệ An đến Quảng Bình vào 10/2007) tính được là 14m.

      + Mưa trong bão và lũ lụt: Mưa rất lớn do bão và ATNĐ ở miền Trung là nguyên nhân tạo ra nhiều đợt lũ lụt lịch sử, gây tổn thất to lớn về người và tài sản. Riêng lượng nước mưa vào ngày 2/11/1999 tại Huế là 1.384 mm, làm mực nước sông Hương lên cao gần 6m, gây ra một trận đại hồng thuỷ với sức tàn phá kinh khủng mà hậu quả của nó để lại phải vài chục năm sau mới khôi phục nổi. Cơn bão số 11 (tháng 11/2009) đã gây mưa lớn trên diện rộng; hầu hết các tỉnh từ Quảng Bình đến Khánh Hoà bộ đều có lượng mưa trung bình 200 - 400mm, đã gây đợt lũ lớn lịch sử, làm tổn thất nặng nề về người và tài sản cho các tỉnh Nam Trung bộ (đặc biệt là các tỉnh Phú Yên, Bình Định...).

      3.2. Kết quả nghiên cứu, dự báo sóng, nước dâng và ngập lụt do bão gây ra đối với ven biển miền Trung

      Cơ sở số liệu đầu vào cho hiệu chỉnh, thẩm định các mô hình để tính toán dự báo sóng, nước dâng và khả năng ngập lụt do bão…là những kịch bản bão thực tế đã xảy ra (với những tham số bão được theo dõi và quan trắc). Với 10 kịch bản bão thực tế là:

      - Kịch bản 1: Bão Wilma (1952)
      - Kịch bản 2: Bão Kate (1970)
      - Kịch bản 3: Bão Cecil (1985)
      - Kịch bản 4: Bão Betty (1987)
      - Kịch bản 5: Bão Angena (1989)
      - Kịch bản 6: Bão Becky (1990)
      - Kịch bản 7: Bão Dan (1995)
      - Kịch bản 8: Bão Zack (1995)
      - Kịch bản 9: Bão Durian (2006)
      - Kịch bản 10: Bão Xangsane (2006)

      Ngoài ra, còn xây dựng một số kịch bản giả định bão hoạt động trong vùng biển trung Trung Bộ với cường độ, tốc độ di chuyển và quỹ đạo khác nhau. Từ đó, tiến hành tính toán và đưa ra các bản đồ trường sóng, độ cao nước dâng, và diện tích ngập lụt do bão cho toàn vùng ven biển miền Trung; dự báo chi tiết cho 05 khu vực ven biển, là: Cửa Thuận An, Tư Hiền - Thừa Thiên Huế, Thọ Quang - Đà Nẵng và Vịnh Xuân Đài, cửa Đà Rằng - Phú Yên.

      3.2.1. Kết quả nghiên cứu, tính toán dự báo sóng trong bão

      + Kịch bản bão thực tế: Kết quả tính cho 10 kịch bản bão thực tế, cho thấy: độ cao sóng lớn nhất khi bão hoạt động ở ven biển Trung bộ lên tới 12,5 - 13,0m (bão Cecil - 1985 và Betty - 1987). Hầu hết ven biển các tỉnh miền Trung đều có độ cao sóng trung bình trên 3,0m. Riêng các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Ngãi, độ cao sóng do bão trung bình thường là trên 5,0m. Các khu vực ven biển trung Trung bộ (từ Quảng Trị đến Bình Định), độ cao sóng bão nhỏ nhất cũng xấp xỉ 2,0m.

      + Kịch bản bão giả định: Kết quả tính toán với 04 kịch bản bão giả định cho thấy:với bão từ cấp 10 trở lên, độ cao sóng ở khu vực gần tâm bão đi qua, thường trong khoảng 6,0 - 7,0m, có nơi tới 11,m. Các khu vực ven biển chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão đổ bộ, chỉ cần bão cấp 10, độ cao sóng đã đạt tới 4,0 - 6,0m; Đặc biệt, với những cơn bão có cường độ mạnh, thì độ cao sóng trong phạm vi ảnh hưởng bão rất lớn (từ 8,0 - 9,0m).

      3.2.2. Kết quả nghiên cứu, tính toán dự báo nước dâng trong bão

      + Kịch bản bão thực tế: Kết quả tính cho 10 kịch bản bão thực tế, cho thấy: Bình Định, Phú Yên và Khánh Hòa có mức nước dâng do bão thấp nhất (dưới 50cm). Các tỉnh còn lại đều có mức nước dâng bão trung bình từ trên 50cm tới trên 100cm. Đặc biệt, các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, độ cao nước dâng bão lớn nhất đạt tới trên 200cm, trung bình cũng xấp xỉ 100cm

      + Kịch bản bão giả định: Các kịch bản bão giả định, được chia theo 04 nhóm với các hướng di chuyển chủ yếu là hướng Tây (Nhóm 1), hướng Tây Tây Bắc (Nhóm 2), hướng Tây Bắc (Nhóm 3) và hướng Tây Tây Nam (Nhóm 4)

      Kết quả tính toán dự báo nước dâng cho thấy: Các khu vực từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi là nơi thường xuyên có nước dâng (từ trên 50cm đến trên 100cm) khi bão đổ bộ; nước dâng bão cao nhất là khu vực Quảng Bình - Đà Nẵng (170 - 300cm).

      3.2.3. Kết quả nghiên cứu tính toán dự báo ngập lụt do bão

      Trên cơ sở tính toán trường sóng và nước dâng bão với 10 kịch bản bão thực tế (từ năm 1952 - 2006), đã tính toán khả năng ngập lụt do các cơn bão này gây ra cho các tỉnh ven biển miền Trung; đồng thời, tính toán chi tiết diện tích ngập lụt cho 05 khu vực nghiên cứu là: Thọ Quang - Đà Nẵng, Thuận An, Tư Hiền - Thừa Thiên Huế; vịnh Xuân Đài, cửa Đà Rằng - Phú Yên (Hình 1, Bảng 1).

      Hình 1. Bản đồ ngập lụt do nước dâng bão khu vực Thuận An tỉnh Thừa Thiên Huế (cơn bão CELCIL - 1985)          Diện tích ngập lụt: 170.87 km2

      Như vậy, hầu hết các cơn bão đổ bộ vào miền Trung đều có khả năng gây ngập lụt vùng ven biển do sóng và nước dâng bão ở mức độ khác nhau. Với 05 khu vực được tính toán chi tiết, thì cửa Thuận An - Thừa Thiên Huế là nơi có diện tích ngập lụt lớn nhất (tới trên 200km2), đặc biệt khi các cơn bão ảnh hưởng trực tiếp tới khu vực này.

      Bảng 1. Diện tích ngập lụt do bão gây ra tại một số khu vực ven biển miền Trung

      Kịch bản

      Diện tích ngập lụt (km2)

      Cửa sông Đà Rằng (Phú Yên)

      Vịnh Xuân Đài (Phú Yên)

      Thọ Quang Đà Nẵng

      Thuận An  (Thừa Thiên Huế)

      Tư Hiền  (Thừa Thiên Huế)

      Kịch bản 1: Bão Wilma (1952)

      7,19

      9,92

      8,31

      223,03

      26,16

      Kịch bản 2: Bão Kate (1970)

      7,48

      10,12

      8,64

      208,64

      29,06

      Kịch bản 3: Bão Cecil (1985)

      6,91

      9,32

      7,65

      170,87

      23,54

      Kịch bản 4: Bão Betty (1897)

      9,21

      15,87

      8,97

      205,64

      26,74

      Kịch bản 5: Bão Angena (1989)

      4,80

      3,97

      2,83

      27,82

      10,66

      Kịch bản 6: Bão Becky (1990)

      6,62

      8,93

      5,02

      15,87

      7,61

      Kịch bản 7: Bão Zack (1995)

      5,18

      4,56

      6,98

      184,30

      21,08

      Kịch bản 8: Bão Dan (1995)

      4,75

      3,77

      2,86

      15,39

      11,62

      Kịch bản 9: Bão Durian (2006)

      8,66

      12,14

      10,04

      34,77

      9,56

      Kịch bản 10: Bão Xangsane (2006)

      3,45

      10,90

      11,64

      234,42

      46,50

      4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

      4. 1. Kết luận

      - Hàng năm, trung bình miền Trung hứng chịu khoảng 3 – 4 cơn bão, ATNĐ trong tổng số 5 - 6 cơn bão ảnh hưởng đến nước ta. Mùa bão, ATNĐ bắt đầu từ tháng 6, kết thúc vào tháng 12 và thường trùng với mùa mưa, càng về phía Nam bão, ATNĐ xuất hiện càng muộn dần và kết thúc cũng muộn dần; tần suất và cường độ bão có xu thế giảm dần từ Bắc vào Nam. Do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu, những năm gần đây, số các cơn bão và ATNĐ đổ vào miền Trung tăng lên rõ rệt và xuất hiện ngày càng nhiều các cơn bão mạnh cấp 11 - cấp 12, trên cấp 12 ...

      - Kết quả tính toán bằng mô hình cho các kịch bản bão khác nhau đã chỉ ra, với bão từ cấp 10 trở lên, độ cao sóng ở khu vực gần tâm bão đi qua, thường trong khoảng 6,0 - 7,0m, có nơi tới 11,m; các khu vực ven biển (từ Thừa Thiên Huế - Phú Yên) chỉ cần bão cấp 10, độ cao sóng đã đạt tới 4,0 - 6,0m. Khi bão đổ bộ thường kèm theo nước dâng, nước dâng do bão cao nhất là khu vực Quảng Bình - Đà Nẵng (có thể tới 170 - 300cm). Dưới tác dụng của sóng, thuỷ triều, khu vực ven biển có thể bị ngập lụt do nước dâng với diện tích lớn; điển hình là: cửa Thuận An, có diện tích ngập lụt lớn nhất (tới trên 200km2), tiếp theo là khu vực cửa Tư Hiền (gần 50km2)...

      4.2. Kiến nghị

      - Đề nghị Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tiếp tục mở rộng phạm vi nghiên cứu, tính toán về sóng, nước dâng và ngập lụt do bão gây ra ở ven biển (cho các khu vực ven biển miền Bắc và bắc Trung Bộ); Tập trung nghiên cứu các hiện tượng kèm theo trong bão kết hợp với các đặc tính của mưa lũ, đặc điểm địa hình, chế độ thuỷ văn từng vùng..., làm cơ sở khoa học cho công tác phòng chống, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, bão lụt gây ra với vùng ven biển Việt Nam.

      - Căn cứ vào điều kiện tự nhiên và thực trạng công tác phòng chống bão lũ thời gian qua; các địa phương ven biển trung Trung bộ cần sử dụng kết quả tính toán về sóng, nước dâng và ngập lụt do bão gây ra ở ven biển, kết hợp với những kết quả nghiên cứu lũ, lụt trên các sông, suối, hồ đập... trên cơ sở đó, xây dựng hệ thống quản lý, chủ động đối phó với thiên tai. Với những vùng đã có nghiên cứu chi tiết về tác động của bão, cần lập các bản đồ chi tiết về tác động của sóng, nước dâng do bão, ảnh hưởng của lũ lụt, sạt lở đất và bồi lấp các cửa sông ven biển..../.

      TÀI LIỆU THAM KHẢO

      1. Báo cáo Tổng kết khoa học kỹ thuật đề tài: Nghiên cứu tác động của bão và các hiện tượng kèm theo đối với hệ thống cầu cảng, khu neo đậu tàu thuyền và khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung ở trung Trung Bộ. Hải Phòng, 12/2009.

      2. Trần Hồng Lam và ctv, 2006. Nước dâng do bão, công tác triển khai dự báo nghiệp vụ tại Việt Nam. Tạp chí KTTV số 543, 03/2006.

      3. Masakazu Hikagi. A Guide ta JMA Storm Surge Model. Manila Workshop. Philippines, September 2006.

      Trần Lưu Khanh - Trung tâm quốc gia Quan trắc và Cảnh báo Môi trường Biển
      Hoàng Trung Thành - Trung tâm Hải văn

      (Chơi cho vui) AIRDROP CHAINGE FINANCE - dự án xây dựng ứng dụng ngân hàng số cho mọi người

       Không hiểu lắm về cái này, tuy nhiên thấy quảng cáo khá nhiều, lại chỉ cung cấp vài thông tin cá nhân (mà mấy ông lớn như facebook với goog...