Chưa đủ khả năng nộp tiền, có quyền ghi nợ tiền "sổ đỏ"
Thứ hai 03/06/2013 07:41
Sent from my iPad
ChangeTobeBetter's blog - Hãy sống cho ngày hôm nay. Vì ngày hôm qua chỉ là một giấc mộng. Ngày mai chỉ là một ảo tưởng.
Thứ hai 03/06/2013 07:41
- Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27.12.2005 của Chính phủ có quy định về thủ tục kết hôn như sau: Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này nhưng ĐKKH tại xã, phường, thị trấn khác thì phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú về tình trạng hôn nhân (TTHN) của người đó.
Về nguyên tắc thì UBND cấp xã chỉ xác nhận TTHN theo các giấy tờ cư trú như: sổ hộ khẩu, sổ tạm trú..., và việc xác nhận TTHN phải liên tục từ khi đủ tuổi kết hôn đến lúc ĐKKH. Tuy nhiên, đối với những người cư trú nhiều nơi, hoặc không có đăng ký cư trú hợp pháp thì việc xác nhận gặp nhiều khó khăn hoặc không thể xác nhận được.
Để "gỡ vướng" những trường hợp này, ngày 5.6.2006 Bộ Tư pháp đã có Công văn số 2488/BTP-HCTP hướng dẫn các địa phương như sau: Đối với việc xác nhận TTHN để kết hôn mà đương sự đã cư trú nhiều nơi thì chỉ cần xác nhận TTHN tại nơi đang cư trú, còn những nơi cư trú trước đó cho phép đương sự làm giấy cam kết về TTHN (chưa kết hôn với ai/đã ly hôn/vợ (chồng) đã chết). Giấy này phải có xác nhận chữ ký của đương sự tại UBND cấp xã.
Như vậy, trong trường hợp trên anh chỉ cần xác nhận TTHN tại UBND phường nơi cư trú (TP.HCM), sau đó anh phải làm giấy cam kết về TTHN theo hướng dẫn trên đây cho những nơi cư trú cũ. (Không có mẫu cho giấy cam kết này, tự nghĩ ra thôi: Kính gửi, họ tên, thông tin, cam kết tình trạng hôn nhân từ thời điểm X đến Y là độc thân hoặc đã ly dị, hoặc chồng cũ/vợ cũ đã mất, ... - UBND xã nơi cư trú sẽ nhận cam kết)
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2488/BTP-HCTP
| Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2006 |
Kính gửi: Sở tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Bộ Tư pháp nhận được phản ánh của một số Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về những vướng mắc trong thời gian đầu triển khai thực hiện Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Trong khi chờ việc ban hành Thông tư hướng dẫn, Bộ Tư pháp hướng dẫn tạm thời một số nội dung như sau để bảo đảm áp dụng thống nhất trong toàn quốc:
1. Đối với việc chuyển giao những sổ hộ tịch được lập từ trước năm 1975 đang lưu tại Sở Tư pháp
Về nguyên tắc, việc chuyển giao sổ hộ tịch từ Sở Tư pháp về lưu trữ tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện được thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn số 641/BTP-HCTP ngày 10/02/2006 của Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, một số Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố phía Nam hiện đang lưu những sổ hộ tịch được lập từ trước năm 1975 (chỉ có một bộ duy nhất), do việc chia tách địa giới hành chính, nên không thực hiện được chuyển giao sổ hộ tịch cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện theo hướng dẫn tại Công văn nói trên. Đối với những sổ hộ tịch này, Sở Tư pháp vẫn tiếp tục lưu trữ, không chuyển giao cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Về lâu dài, Sở Tư pháp cần báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất phương án nhân bản sổ gốc bằng cách sao chụp; hoặc xây dựng cơ sở dữ liệu về hộ tịch cung cấp cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện qua mạng tin học (trong trường hợp chưa nối mạng, thì cấp đĩa mềm) để làm căn cứ giải quyết các việc hộ tịch thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
2. Việc giải quyết yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính; bổ sung hộ tịch; điều chỉnh hộ tịch; cấp lại bản chính Giấy khai sinh; cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch trong trường hợp sổ hộ tịch đang lưu tại Sở Tư pháp
Khi công dân có yêu cầu về thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính; bổ sung hộ tịch; điều chỉnh hộ tịch; cấp lại bản chính Giấy khai sinh; cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch, mà việc giải quyết các yêu cầu đó cần đến thông tin trong sổ hộ tịch đang lưu tại Sở Tư pháp, thì Sở Tư pháp, nơi lưu trữ sổ hộ tịch có trách nhiệm tạo điều kiện cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện thẩm quyền của mình theo đúng quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP. Uỷ ban nhân dân cấp huyện có Công văn đề nghị Sở Tư pháp cung cấp thông tin trong sổ hộ tịch lưu tại Sở Tư pháp. Sở Tư pháp cung cấp thông tin theo yêu cầu của Uỷ ban nhân dân cấp huyện bằng cách gửi trang photocopy sổ lưu hoặc trích lục thông tin trả lời bằng văn bản cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện.
Sau khi đã giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính; bổ sung hộ tịch; điều chỉnh hộ tịch; cấp lại bản chính Giấy khai sinh; Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải thông báo cho Sở Tư pháp để ghi chú vào sổ đăng ký hộ tịch lưu tại Sở Tư pháp.
3. Việc giải quyết yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính; cấp lại bản chính Giấy khai sinh thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, nhưng Sổ đăng ký khai sinh chưa chuyển lưu lên Uỷ ban nhân dân cấp huyện
Trong trường hợp Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết yêu cầu yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, cấp lại bản chính Giấy khai sinh, nhưng Sổ đăng ký khai sinh chưa chuyển lưu lên Uỷ ban nhân dân cấp huyện do chưa sử dụng hết sổ, thì cũng được giải quyết tương tự theo hướng dẫn tại điểm 2 Công văn này.
Riêng đối với những địa phương trước đây không thực hiện việc đăng ký kép, nên chỉ có 01 quyển sổ hộ tịch lưu tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, thì Sở Tư pháp xây dựng Đề án báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh khắc phục tình trạng này (có thể bằng cách photocopy sổ, có đóng dấu giáp lai, sau đó chuyển lưu về Uỷ ban nhân dân cấp huyện).
4. Việc giải quyết yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính trong trường hợp đương sự không có bản chính Giấy khai sinh
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Nghị định số 158/2005/NĐ- CP , thì người yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính phải xuất trình bản chính Giấy khai sinh. Do đó, trong trường hợp bản chính Giấy khai sinh của đương sự bị mất, thì hướng dẫn đương sự làm thủ tục cấp lại bản chính Giấy khai sinh, sau đó mới làm thủ tục thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính (mà không sử dụng bản sao Giấy khai sinh để giải quyết các trường hợp này).
5. Việc đăng ký khai sinh quá hạn cho trẻ em thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 96 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP
Việc đăng ký khai sinh quá hạn cho trẻ em thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 96 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP được thực hiện theo quy định tại các điều 43, 44 và 45 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.
6. Việc kết hợp giải quyết việc cha nhận con và đăng ký khai sinh tại Uỷ ban nhân dân cấp xã
Việc kết hợp giải quyết việc cha nhận con và đăng ký khai sinh tại Uỷ ban nhân dân cấp xã được thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.
Khi kết hợp giải quyết việc cha nhận con và đăng ký khai sinh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã vẫn phải ký Quyết định công nhận việc nhận con.
7. Việc ghi tên cha, mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của người con (khi giải quyết đăng ký khai sinh quá hạn cho người đã thành niên trong trường hợp cha hoặc mẹ đã chết, mà cha mẹ không đăng ký kết hôn)
Trong trường hợp đăng ký khai sinh quá hạn cho người đã thành niên, nếu cha hoặc mẹ đã chết, mà cha mẹ không đăng ký kết hôn, thì người con phải làm thủ tục nhận cha hoặc mẹ (đã chết). Sau khi có quyết định công nhận việc nhận cha/mẹ, thì tên của người cha, người mẹ (đã chết) mới được ghi trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của người con.
8. Về xác nhận của người làm chứng trong trường hợp đăng ký khai tử cho người chết tại nhà, ở nơi cư trú
Điểm k Khoản 2 Điều 22 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định: "Đối với người chết tại nhà ở nơi cư trú, thì văn bản xác nhận việc chết của người làm chứng thay cho Giấy báo tử".
Quy định này được áp dụng đối với trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch không biết rõ về việc chết; đối với những trường hợp khi giải quyết đăng ký khai tử mà cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ việc chết, thì không cần phải có xác nhận của người làm chứng.
9. Việc xác nhận tình trạng hôn nhân trong hồ sơ đăng ký kết hôn của những người đã cư trú tại nhiều địa phương khác nhau (kể cả cư trú ở nước ngoài)
Trong trường hợp một người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), thì khi đăng ký kết hôn, ngoài việc xác nhận tình trạng hôn nhân của nơi cư trú hiện tại, đương sự phải viết tờ cam kết (không có mẫu riêng) và chịu trách nhiệm về cam kết của mình về tình trạng hôn nhân trong thời gian trước đó.
10. Ghi vào sổ việc xác nhận tình trạng hôn nhân trong Tờ khai đăng ký kết hôn
Việc xác nhận tình trạng hôn nhân trong Tờ khai đăng ký kết hôn cũng phải ghi vào Sổ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để quản lý.
11. Cách thức xác định ngày, tháng sinh khi giải quyết yêu cầu bổ sung ngày, tháng sinh trong Giấy khai sinh
Trong trường hợp Giấy khai sinh của một người đã ghi năm sinh mà không ghi ngày, tháng sinh; nay người đó có yêu cầu ghi bổ sung, thì ngày, tháng sinh được xác định như sau:
a) Đối với những người đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ, giấy tờ đã ghi thống nhất về ngày, tháng sinh, thì xác định theo ngày, tháng sinh đó. Trường hợp ngày, tháng sinh ghi trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất với nhau, thì xác định theo ngày, tháng sinh trong hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên.
b) Đối với những người chưa có hồ sơ, giấy tờ cá nhân hoặc đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân, nhưng trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân cũng không ghi ngày, tháng sinh, thì ngày, tháng sinh được xác định theo lời khai của đương sự (có xác nhận của người làm chứng). Riêng trường hợp bổ sung ngày, tháng sinh cho trẻ em, thì ngày, tháng sinh của trẻ được xác định theo cam kết của cha, mẹ đẻ.
c) Trong trường hợp không xác định được ngày, tháng sinh theo hướng dẫn tại điểm a và b trên đây, thì ngày, tháng sinh là ngày 01 tháng 01 của năm đó.
12. Về mẫu bản chính Giấy chứng nhận kết hôn được sử dụng để cấp cho đương sự sau khi đã ghi chú vào sổ việc kết hôn đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài
Công dân Việt Nam ở nước ngoài về nước thường trú, đã ghi chú vào Sổ đăng ký kết hôn việc kết hôn đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định tại Mục 4 Chương III Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, thì sau khi đã ghi chú, Giám đốc Sở Tư pháp ký và cấp cho đương sự bản chính Giấy chứng nhận kết hôn theo mẫu Bản chính - đăng ký lại - mẫu sử dụng tại Sở Tư pháp (mẫu số BTP/HT-2006-KH.3); riêng phần chữ ký của chồng, chữ ký của vợ chỉ ghi họ và tên của người chồng, người vợ (đã ký) mà không yêu cầu hai vợ chồng phải ký lại vào bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.
13. Về mẫu bản sao giấy tờ hộ tịch được sử dụng để cấp cho công dân trong trường hợp cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ những việc hộ tịch mà trước đây Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã đăng ký
Trong trường hợp công dân có yêu cầu cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ các sổ hộ tịch (Sổ đăng ký khai sinh; Sổ đăng ký khai tử; Sổ đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch) mà các việc hộ tịch đó trước đây Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã đăng ký theo quy định tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, thì Sở Tư pháp dùng biểu mẫu bản sao dùng cho Sở Tư pháp được ban hành theo Quyết định số 01/QĐ-BTP ngày 31/3/2005 của Bộ Tư pháp để cấp cho công dân. Khi sử dụng biểu mẫu này, Sở Tư pháp bổ sung thêm phần ghi về họ tên, chức danh của người đã ký trước đây vào biểu mẫu hộ tịch.
14. Về cách tính thời hạn giải quyết các việc hộ tịch
Đối với những việc hộ tịch mà Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định về thời hạn giải quyết, thì thời hạn được tính theo ngày làm việc.
Trên đây là một số hướng dẫn về nghiệp vụ hộ tịch, đề nghị các cơ quan Tư pháp địa phương triển khai thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, thì phản ánh ngay về Bộ Tư pháp (Vụ Hành chính tư pháp) để có hướng dẫn kịp thời.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
| Đăng ký kết hôn | ||||||||||||||||
| | ||||||||||||||||
|
| ||||||||||||||||
| |
Ngày 15/4, cảnh sát giao thông bắt đầu xử phạt xe không sang tên đổi chủ hoặc sang tên muộn so với quy định, theo Thông tư 11 của Bộ Công an. Trao đổi với VnExpress.net, đại tá Đào Vịnh Thắng, Trưởng phòng CSGT Hà Nội cho biết, đã có văn bản hướng dẫn cụ thể và phổ biến về việc xử lý cho các đội CSGT.
![]() |
| Cảnh sát chỉ xử phạt lỗi như vượt đèn đỏ, đi sai làn, không phạt lỗi không sang tên đổi chủ nếu người vi phạm xuất trình được giấy tờ. Ảnh: Bá Đô |
Theo ông Thắng, Thông tư 11 hướng dẫn cụ thể: "CSGT không được dừng các phương tiện đang lưu thông trên đường khi không có dấu hiệu vi phạm để hỏi và xử lý với lỗi xe không chính chủ". Do đó, với những xe vi phạm giao thông khi xử phạt cảnh sát sẽ không hỏi, điều tra xe chính chủ hay không, cũng như không cộng dồn lỗi "xe không chính chủ" với các lỗi khác.
Thông tư 11 hướng dẫn, việc xử lý phương tiện không sang tên đổi chủ chỉ thông qua việc đăng ký, cấp biển số, điều tra giải quyết tai nạn giao thông; qua phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, các trường hợp bị tạm giữ phương tiện theo quy định. Qua điều tra các vụ án hình sự nếu phát hiện người mua hoặc bán không làm thủ tục sang tên thì công an phải xác minh hành vi vi phạm và ra quyết định xử phạt nếu quá 30 ngày làm giấy mua bán xe nhưng chưa sang tên.
Tuy nhiên, theo ông Thắng, trong quá trình xử lý vi phạm, nếu người điểu khiển phương tiện xuất trình được đăng ký xe, giấy phép lái xe, cảnh sát chỉ xử phạt lỗi mà người vi phạm gặp phải như vượt đèn đỏ, đi sai làn... Còn những trường hợp vi phạm mà không xuất trình được các giấy tờ cần thiết (bằng lái và đăng ký xe) thì sẽ bị lập biên bản và giữ xe 10 ngày theo quy định.
Trong 10 ngày, khi người vi phạm xuất trình được giấy tờ sẽ chỉ bị phạt lỗi không mang theo giấy tờ. Quá 10 ngày vẫn chưa xuất trình được giấy tờ cần thiết, cảnh sát buộc phải xác minh và điều tra nguồn gốc xe, nếu phát hiện xe không sang tên đổi chủ thì sẽ bị xử lý theo quy định. Cụ thể, theo Nghị định 71, xe máy sẽ bị phạt 800.000 - 1,2 triệu đồng (mức phạt trung bình một triệu đồng), ôtô bị phạt 6-10 triệu (mức phạt trung bình 8 triệu đồng).
Đại tá Thắng cho rằng, Thông tư 12 mới đây của Bộ Công an hướng dẫn thủ tục đăng ký sang tên đổi chủ rất nhanh gọn và thuận lợi, nếu trong tỉnh thì chỉ 2 ngày là đã có đăng ký mới, còn xe khác tỉnh thì chậm nhất là 30 ngày. "Khi mua bán xe người dân cũng cần tự ý thức đi đăng ký sang tên đổi chủ theo quy định", ông Thắng nói thêm.
Trước đó, tại cuộc họp với các bộ, ngành liên quan về quy định xử phạt xe không chính chủ, Bộ trưởng Giao thông Vận tải Đinh La Thăng cho rằng, quy định xử phạt hành vi không chuyển quyền sở hữu phương tiện đã có, song quá trình thực hiện cho thấy tính khả thi không cao nên đề nghị không đưa vào dự thảo. Trong khi đó, khi đại diện Bộ Công an khẳng định, quy định về xử phạt xe không sang tên đổi chủ trong Thông tư 11 đã nêu rất rõ, nên bắt đầu từ ngày 15/4 cảnh sát giao thông sẽ vẫn áp dụng theo quy định.
Bá Đô
Thứ Sáu, 25/01/2013 - 20:55 Nam Định:
Như Dân trí đã phản ánh theo tường trình của anh Nguyễn Văn Hải, vào lúc 12 giờ 45 phút ngày 24/1, anh Hải điều khiển xe máy đèo theo một đồng nghiệp đi đến đoạn qua dưới chân cầu vượt thành phố Nam Định - đường rẽ về Thái Bình.
Tại đây có 2 cán bộ tự xưng là Thanh tra giao thông Nam Định, không đeo phù hiệu, điều khiển chiếc xe máy đến yêu cầu anh Hải xuất trình giấy tờ để kiểm tra.
Sau đó, giữa hai bên đã có lời qua tiếng lại với nhau và một trong hai người này đã lớn tiếng cởi áo đòi "xử" anh Hải.
Theo lãnh đạo Thanh tra giao thông tỉnh Nam Định, ngay khi biết thông tin về sự việc trên, Thanh tra giao thông tỉnh Nam Định đã tiến hành rà soát và xác định hai cán bộ có hành vi trên là người của Đội Quản lý trật tự đô thị (QLTTĐT) thành phố Nam Định.
Đồng thời, ngay sáng ngày 25/1, Thanh tra giao thông tỉnh Nam Định đã làm việc với lãnh đạo Đội QLTTĐT thành phố và được xác nhận hai cán bộ của đội này chính là hai nhân vật có hành vi hành xử kiểu giang hồ như đã phản ánh.
Tại buổi làm việc với Thanh tra Sở giao thông vận tải tỉnh Nam Định, ông Bùi Ngọc Trung - Đội trưởng Đội QLTTĐT thành phố Nam Định đã xác nhận: Hai cán bộ trong ảnh của bài báo có tên là Trần Văn Long (sinh năm 1975) và Hoàng Xuân Trường (sinh năm 1984), thuộc Đội QLTTĐT thành phố Nam Định trực tiếp quản lý.
Cũng theo Thanh tra giao thông tỉnh Nam Định, Đội QLTTĐT chỉ có chức năng làm nhiệm vụ quản lý trật tự đô thị trong phạm vị địa bàn thành phố Nam Định, không có chức năng xử phạt vi phạm hành chính. Theo Luật Thanh tra, tại tỉnh Nam Định chỉ có duy nhất một đơn vị có chức năng thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải là Thanh tra Sở giao thông vận tải tỉnh Nam Định.
Liên quan đến vụ việc, ngay sáng ngày 25/1, UBND thành phố Nam Định cũng đã tiếp nhận thông tin, đồng thời chỉ đạo Đội QLTTĐT thành phố đình chỉ công tác ngay đối với 2 cán bộ có hành vi trên, yêu cầu điều tra làm rõ sự việc.
Cũng trong sáng ngày 25/1, lãnh đạo Đội QLTTĐT thành phố Nam Định đã họp, ra quyết định đình chỉ công tác đối với hai cán bộ nêu trên. Đồng thời, yêu cầu Trần Văn Long và Hoàng Xuân Trường làm biên bản tường trình lại toàn bộ sự việc.
Chiều ngày 25/1, trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Nguyễn Minh Thuỵ, Chánh thanh tra giao thông tỉnh Nam Định cho biết: "Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, chúng tôi đã tiến hành xác minh và làm rõ vấn đề báo nêu. Qua xác minh thì hai cán bộ đó là của Đội QLTTĐT thành phố. Việc mang sắc phục của một số đơn vị hiện tại là tương tự nhau nên rất dễ gây nhầm lẫn. Qua đây, chúng tôi cũng đề nghị UBND tỉnh Nam Định rà soát, chấn chỉnh tình trạng việc một số trang phục của các đơn vị giống với thanh tra giao thông. Việc lực lượng trật tự đô thị Nam Định ghi tên hiệu, mặc trang phục gần giống, gây nhầm lẫn với Thanh tra giao thông.
Duy Tuyên
Thứ Hai, 28/01/2013 - 14:37 Tôi có một ông bạn, (nói thật ra thì vài ông, thậm chí là nhiều ông), đã lâu lắm rồi tôi không biết anh làm chính xác việc gì… Ngày nào cũng thế, khoảng gần 10 giờ anh mới lững thững thò mặt đến cơ quan. Đến nơi, anh thong thả cởi áo khoác, đun nước, pha trà, rồi ngồi ngả người khoan khoái trên cái ghế da mềm mại, một tay cầm thuốc lá, tay kia lật giở mấy tờ báo mới. Anh có biệt tài là điểm ngay ra được những tin "hot" để phổ biến cho cả phòng nghe, chêm vào những bình luận cực kỳ sâu sắc, chua cay rồi tự thưởng cho mình những tràng cười sảng khoái.
Uống trà chán, anh bật máy tính lên lướt web, đọc tin, người mẫu, ca sĩ hay hoa hậu... mà hở ra cái gì là thế nào anh cũng biết…
Anh làm hết ngần đấy việc thì cũng là lúc trưa đến, thế là anh bốc điện thoại rủ người này, người khác đi ăn. Ăn chán, uống chán rồi về bắc chân lên bàn đánh một giấc đến quá hai giờ chiều mới dậy.
Dậy rồi anh lại làm nguyên hầu hết việc của ban sáng: pha trà, đọc tin và… chém gió. Lạ một điều là anh cực kỳ bất mãn về thời cuộc. Suốt ngày than vãn về những hạn chế, bất cập, rồi nói xấu người khác như ranh, kể cả lãnh đạo từ thấp lên cao...
Chẳng cần nói thì bạn cũng biết, anh làm cho Nhà nước. Thời buổi này, chỉ có thể trong môi trường bao cấp mới có những người chỉ lĩnh lương và nói phét như thế. Tôi vẫn thường quan sát anh và những người giống anh, đáng ngại là thành phần này có vẻ đang ngày càng thêm nhiều hơn. Có lẽ chả có gì phi lý được hơn thế!
Thế nên, lần đầu tiên nghe nghe một Phó Thủ tướng định lượng được là hiện nay cả nước có 30% công chức "có cũng như không", "sáng cắp ô đi, tối cắp ô về", thực lòng tôi vừa thấy sướng, lại vừa thấy cay đắng, bất bình.
Sướng là vi cái sự kém hiệu lực, hiệu quả của đội ngũ cán bộ, công chức đã được vạch ra cụ thể, rõ ràng chứ không chung kiểu "một bộ phận không nhỏ" nữa. một khi Phó Thủ tướng đã nói, tức là Chính phủ đã thấy rõ và sốt ruột lắm rồi. Hy vọng sau đây sẽ có những bước chuyển dứt khoát, tích cực.
Cay đắng, bất bình là vì Nhà nước và Nhân dân phải nuôi báo cô nhiều và lâu quá. 30% của 2,8 triệu, có nghĩa là 840.000 người. Nếu chỉ tính một lương tôi thiểu thì mỗi năm đã mất không cả chục ngàn tỷ đồng. Chưa nói hàng tấn tiền chi cho cơ sở vật chất, kỹ thuật, văn phòng phẩm, xăng xe… để đám người này "hoạt động". Đây là cách tính khiêm tốn, tôi không dám tính đúng, tính đủ vì càng tính càng xót ruột. Số tiền này nếu bỏ ra xây thêm trường học, bệnh viện ở vùng sâu, vùng xa hay đem cứu tế cho những người nghèo khó, cơ nhỡ trong xã hội thì tốt đẹp và có ích biết bao nhiêu.
Nuôi đám người này không chỉ tốn kém tiền của, hệ lụy mà họ gây ra còn khủng khiếp hơn nhiều. Bất ổn trong cơ quan, đơn vị phần lớn do đám này gây ra. Vì không làm mà chỉ nói là chính, nên họ nói hay như chim hót. Họ làm cho những người tích cực, có năng lực đâm ra chán nản, mất niềm tin. Thế là hiệu quả hiệu lực của tổ chức, bộ máy cũng giảm đi. Nói chung là hình ảnh của bộ máy Nhà nước trong xã hội sẽ bị méo mó đi nhiều.
Nuôi không những cán bộ, công chức vô dụng này ngày nào là bất công ngày đó. Bất công sẽ dẫn đến bất bình, mất niềm tin, mất uy tín và mất nhiều thứ khác…
Cho nên, một khi đã định lượng được những cán bộ, công chức ăn hại rồi, đề nghị Chính phủ phải quyết tâm, nhanh chóng, tích cực, huy động toàn bộ hệ thống chính trị vào cuộc, có giải pháp đuổi cổ họ khỏi các cơ quan Nhà nước, dành chỗ ấy cho những người trẻ tuổi, có trình độ, có tâm huyết mà vì lý do nào đó chẳng bao giờ lọt được vào khu vực công với cơ chế tuyển dụng, lựa chọn như hiện nay.
Tất nhiên, hô hào đuổi hết những kẻ vô dụng ra khỏi bộ máy có khi chỉ là khẩu hiệu phải hô nhiều lần và trong thời gian rất dài. Bởi vì đào thải được những người như thế không dễ, nếu chúng ta không có một cơ chế căn bản, khoa học về tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, đãi ngộ, đào thải cán bộ, công chức. Cơ chế mới là điều quan trọng, vì trong cơ chế tốt, kẻ lười nhác có thể hóa thành người chăm chỉ, chuyên cần và ngược lại, với một cơ chế bị lỗi thì người thông minh, chăm chỉ, có năng lực vẫn có nguy cơ trở thành những kẻ lười nhác và ăn hại…
Tuy vậy, muốn nói gì thì nói, không thể để tình trạng bất công, phi lý như thế này kéo dài mãi được.
Theo Phạm Kinh Bắc
VOV
| Mùa vàng Mù Cang Chải. (Ảnh: Vũ Chiến) |
Thông tin liên quan:
Lịch sử hình thành ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải gắn liền với lịch sử cư trú của tộc người Mông, là tác giả của những thửa ruộng bậc thang, chủ nhân cư trú đầu tiên tại vùng đất này. Ruộng là một phương thức canh tác nông nghiệp kết hợp nhuần nhuyễn giữa canh tác nương rẫy và ruộng nước. Khai khẩn ruộng bậc thang là một quá trình công phu, tốn nhiều công sức.
Theo kinh nghiệm của đồng bào, đó là nơi có độ dốc vừa phải, có nguồn nước, có khả năng tạo mặt bằng, ít sỏi đá, cây to, cỏ mọc dày và tốt là vùng đất thích hợp để khai khẩn. Sau khi đã lựa chọn được mảnh đất ưng ý, việc tiếp theo là xác lập quyền khai khẩn.
Ruộng bậc thang La Pán Tẩn. (Ảnh: Thanh Miền)
Đồng bào có thể chồng các cột đá cao khoảng 1m, hoặc chặt ngọn một số cây gỗ lớn trên mảng đất đó làm dấu hiệu xác lập quyền khai khẩn. Khi đã huy động được lực lượng và điều kiện thời tiết thuận lợi, việc khai khẩn được tiến hành. Việc này thường được tiến hành vào mùa xuân (khoảng tháng 1, 2, 3 ) để có thể tháo nước vào sử dụng ngay trong tháng 4, 5 cho kịp thời vụ.
Để làm ruộng, trước hết phải phát cỏ và các loại cây nhỏ, dọn sạch mặt đất, sau đó dùng cuốc đánh các gốc to rồi tiến hành đào và san. Khó khăn nhất là tạo mặt bằng cho ruộng. Mặt bằng ruộng có liên quan đến việc giữ nước và chia đều nước cho toàn ruộng . Việc đào và san ruộng là khâu kỹ thuật đòi hỏi các kỹ năng trong việc khai khẩn ruộng bậc thang. Ruộng đạt tiêu chuẩn phải đủ 2 tiêu chí cơ bản là mặt bằng ruộng và nguồn nước ngâm chân cho lúa. Người Mông nơi đây đã làm được điều này trong điều kiện hết sức khó khăn để đảm bảo cho việc canh tác lúa nước trên sườn đồi và chân các quả đồi.
Việc tiếp theo là làm bờ ruộng. Trong hệ thống ruộng bậc thang, bờ ruộng là yếu tố quan trọng đóng vai trò là "bức tường" giữ nước. Bờ ruộng được tiến hành làm ngay từ khi san ruộng, đất làm bờ lấy ngay từ chỗ san gạt ở phía mép cuối của mặt bằng thửa ruộng. Người ta thường dùng cuốc bướm cào đất thành bờ, dùng chân dẫm và gáy cuốc đập mạnh vào để nén chặt bờ ruộng. Độ chênh lệch giữa thửa ruộng trên và thửa dưới thường là 1- 1,5 m. Khi có nước tháo vào ruộng, bờ sẽ cứng lại.
Công việc khai khẩn được nối tiếp từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên các triền ruộng tựa như những bức tranh nghệ thuật hoành tráng treo trên các sườn đồi. Đây là nét độc đáo của loại hình canh tác mang đậm sắc thái của cư dân vùng cao khu vực Đông Nam Á. Toàn bộ huyện Mù Cang Chải có diện tích 119.908,75 ha thì 3 xã La Pán Tẩn, Chế Cu Nha, Dế Xu Phình có tổng diện tích là 12.035,48 ha, Trong đó diện tích ruộng bậc thang là 330,11 ha. Diện tích này tuy nhỏ nhưng là những kì tích hàng trăm năm khai phá của đồng bào 3 xã từ bao đời nay. Nằm sát cạnh nhau, trong đó Dế Xu Phình nằm ở tả ngạn dòng Nậm Kim cách trung tâm huyện lỵ 20 km; La Pán Tẩn, Chế Cu Nha nằm bên hữu ngạn dòng Nậm Kim trên đường vào trung tâm huyện Mù Cang Chải.
Tới đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những "mâm xôi vàng", "mâm xôi xanh" hiện lên hoành tráng giữa bạt ngàn núi rừng Tây Bắc. Đây đang là điểm thu hút khách du lịch từ mọi miền đến thăm quan. Dừng chân tại 3 xã, đâu đâu cũng thấy những thửa ruộng bậc thang xếp tầng, xếp lớp trải rộng khắp các quả đồi. Đặc biệt, từ trên lưng chừng núi mới thật sự là những công trình văn hoá tuyệt tác của các nghệ nhân sáng tạo ra nó. Do địa hình nơi này là núi cao, vực sâu, cắt xẻ nhiều nên mỗi "mâm xôi" đều được xen giữa các khe nước lớn nhỏ, trập trùng là những rừng thông bạt ngàn. Cứ thế: ruộng, rừng, khe, suối... tầng tầng, lớp lớp xếp lên nhau. Càng lên cao, ta càng thấy thú vị bởi sự kỳ vĩ, hoành tráng của núi rừng, bởi sự trong lành của khí hậu nơi đây...
Ngược thời gian, ngay từ khi định cư vào Việt Nam, người Mông đã lấy trồng trọt là phương thức sinh sống chủ yếu. Trong nông nghiệp, trồng cây lúa trên ruộng bậc thang được đặt lên hàng đầu. Với điều kiện sống khắc nghiệt của vùng cao, việc khai khẩn và canh tác ruộng bậc thang gặp không ít khó khăn do thiên nhiên và xã hội mang lại và các tín ngưỡng thường được hình thành khi con người không giải thích được các hiện tượng tự nhiên. Người Mông Mù Cang Chải đã thực hiện các nghi thức và tín ngưỡng, họ tin rằng làm thế sẽ hạn chế được tới mức thấp nhất những rủi ro tác động đến con người và sản xuất.
Để khai hoang tạo ra những thửa ruộng bậc thang trong quá trình khai khẩn, không ít người gặp tai nạn rủi ro trong các trường hợp như bị đá lăn vào chân, vào người, bị rắn cắn, bị lợn rừng húc, bị dao phát vào chân... Những trường hợp như vậy người dân quan niệm là cái hồn của mình đã bỏ mình ra đi, do đó phải mời thầy cúng gọi hồn về.
Thầy cúng người Mông phải là người già, được học nghề từ khi còn bé. Lễ vật chuẩn bị để cúng gọi hồn gồm: 1 bát gạo, 1 con gà, 1 chén rượu, 1 quả trứng, 1 que hương. Lễ vật đó được đặt ở góc ruộng, nơi gia chủ có người bị nạn. Thầy cúng cầm que hương hua lên trời đọc bài cúng gọi hồn về nhập vào người bị hại để người đó tiếp tục công việc làm ăn. Cúng xong, bài cúng được thầy cúng nhúng vào rượu và đốt ngay tại ruộng. Bên cạnh đó, còn các nghi thức liên quan đến quá trình canh tác ruộng vẫn còn tồn tại trở thành nét văn hóa như nghi thức cầu mưa, lễ mừng cơm mới...
Từ bàn tay lao động cần cù, ruộng bậc thang Mù Cang Chải đã trở thành kỳ quan, là danh thắng quốc gia. Để khai thác tốt tiềm năng ruộng bậc thang, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc Mù Cang Chải đang ra sức sản xuất, đẩy mạnh khai hoang, thâm canh tăng vụ..., đồng thời tôn tạo, gìn giữ, kết hợp ruộng bậc thang với bảo vệ thiên nhiên, duy trì lễ hội văn hoá cổ truyền như: mừng cơm mới, hội Gầu tào, đánh pao, bắn nỏ... Nét văn hóa đặc sắc vùng cao và vẻ đẹp tuyệt vời của ruộng bậc thang đã tạo nên một Mù Cang Chải đẹp và hấp dẫn trong lòng du khách mỗi khi đến nơi đây.
Mời các bạn đón xem một số hình ảnh về Danh thắng ruộng bậc thang Mù Cang Chải:
Chuẩn bị cho vụ mùa. (Ảnh: Thanh Miền)
Nhờ sự cần cù chịu khó của người Mông mà những thửa ruộng bậc thang nơi đây được ví như vân núi. (Ảnh: Thanh Miền)
Nối vụ. (Ảnh: Thanh Miền)
Lúa vàng từ thung lũng đến lưng trời. (Ảnh: Thanh Miền)
Màu vàng của núi. (Ảnh: Thanh Miền)
Thiên nhiên và con người Mù Cang Chải đã làm lên một danh thắng tuyệt vời với sắc xanh của núi, màu vàng của lúa - sự no ấm đang hồi sinh.
Nguyễn ĐìnhKhông hiểu lắm về cái này, tuy nhiên thấy quảng cáo khá nhiều, lại chỉ cung cấp vài thông tin cá nhân (mà mấy ông lớn như facebook với goog...