Hiển thị các bài đăng có nhãn Public Policy. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Public Policy. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 3 tháng 6, 2013

Chưa đủ khả năng nộp tiền, có quyền ghi nợ tiền "sổ đỏ" | ANTĐ - Báo điện tử An Ninh Thủ Đô


Chưa đủ khả năng nộp tiền, có quyền ghi nợ tiền "sổ đỏ"

Thứ hai 03/06/2013 07:41

ANTĐ - Đó là thông tin Bộ trưởng Bộ TN-MT Nguyễn Minh Quang đưa ra tại Chương trình dân hỏi - Bộ trưởng trả lời xung quanh vấn đề cấp "sổ đỏ". 


- Một số hộ dân không nhận hoặc trả lại "sổ đỏ" do áp dụng hệ số K để tính tiền sử dụng đất cao, Bộ TN-MT có hướng xử lý như thế nào?

- Nguyên nhân khiến nhiều hộ dân ở TP.HCM không nhận hoặc trả lại "sổ đỏ" là do hệ số K cao (từ 2 - 4,5 lần), dẫn đến số tiền sử dụng đất phải nộp quá nhiều, trong khi điều kiện kinh tế của nhiều hộ gia đình có đất cần cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCN) còn rất khó khăn. Để khắc phục tình trạng trên, chúng tôi đã bàn với Bộ Tài chính và đề nghị UBND TP.HCM và UBND các tỉnh, thành phố cần vận dụng Thông tư số 93 của Bộ Tài chính cho phù hợp. Theo đó, để bảo đảm quyền của người có đất và đảm bảo công tác quản lý Nhà nước, các địa phương cần quy định hệ số K theo hướng tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân có khả năng nộp được các khoản tiền theo quy định. Hiện nay, TP.HCM đã điều chỉnh hệ số K xuống còn 1,3 - 2 lần.

- Người dân phản ánh khi nhận "sổ đỏ" đã phải nộp khoản phí chậm nộp là 0,05%. Thực chất khoản phí này là gì?

- Cần hiểu rõ nội dung của vấn đề nêu trên, tức là khi đã có Thông báo nộp tiền sử dụng đất, nếu người sử dụng đất chậm nộp tiền thì phải nộp một khoản phạt là 0,05%/ngày (tương đương 18%/năm), tính trên tổng số tiền phải nộp. Quy định này là theo Luật Quản lý thuế. Tuy nhiên, tại Nghị định số 120, Nhà nước cũng có quy định, nếu người dân chưa có đủ khả năng nộp tiền thì được ghi nợ vào GCN mà không phải chịu tiền phạt chậm nộp. Số ghi nợ nếu được thanh toán trong vòng 5 năm thì người dân chỉ nộp tiền theo giá đất tại thời điểm cấp GCN. Như vậy, trường hợp trên có thể do địa phương chưa triển khai thực hiện quy định về ghi nợ hoặc người dân chưa hiểu rõ quy định nên đã không làm thủ tục ghi nợ. 

- Như vậy, có thể hiểu là các địa phương chưa vận dụng hết chính sách?

- Qua làm việc với một số địa phương, một số huyện, thị xã vẫn đề nghị cho ghi nợ trong khi Nghị định 120 đã quy định về vấn đề này. Tôi đề nghị các địa phương cần phổ biến để người dân hiểu rõ chính sách này. Các cơ quan tiếp nhận hồ sơ cấp GCN phải có hướng dẫn cụ thể để người dân biết và làm đơn xin ghi nợ nếu có nhu cầu. Tuy nhiên, nếu người dân có khả năng về tài chính thì tốt nhất là không nên ghi nợ. Nếu đã ghi nợ thì cũng nên nộp trong thời hạn 5 năm, vì sau 5 năm phải nộp theo giá tại thời điểm nộp. Bộ TN-MT đã đề nghị cần xem xét, sửa đổi theo hướng đã cho phép người dân có nhu cầu được ghi nợ thì không phạt chậm nộp đối với các trường hợp công nhận quyền sử dụng đất trong thời gian 5 năm để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân.

- Bộ TN-MT đã đưa ra nhiều giải pháp để tăng tốc cấp "sổ đỏ", kết quả tới nay ra sao, thưa Bộ trưởng?

- Chính phủ và UBND các địa phương trên cả nước đã tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ cấp GCN. Nhiều tỉnh, thành phố đã có chuyển biến tích cực như TP.HCM, Tuyên Quang, Lai Châu... song cũng còn một số địa phương chuyển biến chậm như Sơn La, Kon Tum... Còn nhiều địa phương chưa ưu tiên dành kinh phí hoặc cấp rất hạn chế so với yêu cầu nhiệm vụ cấp GCN phải hoàn thành do nguồn thu từ đất của các địa phương ngày càng giảm. Khó khăn này ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng hoàn thành mục tiêu cấp GCN trong năm 2013. 

Nhiệm vụ cấp GCN quyền sử dụng đất ở nhiều địa phương trong 6 tháng cuối năm còn rất nặng nề. Vì vậy, Bộ TN-MT đề nghị các Bộ, ngành liên quan và địa phương tích cực hơn nữa để hoàn thành nhiệm vụ chính trị mà Chính phủ, Quốc hội đã đề ra về cấp GCN quyền sử dụng đất trong năm 2013.


Sent from my iPad

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

Công văn 2488/BTP-HCTP thực hiện NĐ 158/2005/NĐ-CP đăng ký và quản lý hộ tịch

- Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27.12.2005 của Chính phủ có quy định về thủ tục kết hôn như sau: Trong trường hợp một người cư trú tại xã, phường, thị trấn này nhưng ĐKKH tại xã, phường, thị trấn khác thì phải có xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú về tình trạng hôn nhân (TTHN) của người đó.

Về nguyên tắc thì UBND cấp xã chỉ xác nhận TTHN theo các giấy tờ cư trú như: sổ hộ khẩu, sổ tạm trú..., và việc xác nhận TTHN phải liên tục từ khi đủ tuổi kết hôn đến lúc ĐKKH. Tuy nhiên, đối với những người cư trú nhiều nơi, hoặc không có đăng ký cư trú hợp pháp thì việc xác nhận gặp nhiều khó khăn hoặc không thể xác nhận được.

Để "gỡ vướng" những trường hợp này, ngày 5.6.2006 Bộ Tư pháp đã có Công văn số 2488/BTP-HCTP hướng dẫn các địa phương như sau: Đối với việc xác nhận TTHN để kết hôn mà đương sự đã cư trú nhiều nơi thì chỉ cần xác nhận TTHN tại nơi đang cư trú, còn những nơi cư trú trước đó cho phép đương sự làm giấy cam kết về TTHN (chưa kết hôn với ai/đã ly hôn/vợ (chồng) đã chết). Giấy này phải có xác nhận chữ ký của đương sự tại UBND cấp xã.

Như vậy, trong trường hợp trên anh chỉ cần xác nhận TTHN tại UBND phường nơi cư trú (TP.HCM), sau đó anh phải làm giấy cam kết về TTHN theo hướng dẫn trên đây cho những nơi cư trú cũ. (Không có mẫu cho giấy cam kết này, tự nghĩ ra thôi: Kính gửi, họ tên, thông tin, cam kết tình trạng hôn nhân từ thời điểm X đến Y là độc thân hoặc đã ly dị, hoặc chồng cũ/vợ cũ đã mất, ... - UBND xã nơi cư trú sẽ nhận cam kết)




http://thuvienphapluat.vn/archive/Cong-van/Cong-van-2488-BTP-HCTP-thuc-hien-ND-158-2005-ND-CP-dang-ky-va-quan-ly-ho-tich-vb12281t3.aspx

BỘ TƯ PHÁP
******

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 2488/BTP-HCTP
V/v thực hiện Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch

 

Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2006 

 Kính gửi: Sở tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Bộ Tư pháp nhận được phản ánh của một số Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về những vướng mắc trong thời gian đầu triển khai thực hiện Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch. Trong khi chờ việc ban hành Thông tư hướng dẫn, Bộ Tư pháp hướng dẫn tạm thời một số nội dung như sau để bảo đảm áp dụng thống nhất trong toàn quốc:

1. Đối với việc chuyển giao những sổ hộ tịch được lập từ trước năm 1975 đang lưu tại Sở Tư pháp

Về nguyên tắc, việc chuyển giao sổ hộ tịch từ Sở Tư pháp về lưu trữ tại Uỷ ban nhân dân cấp huyện được thực hiện theo hướng dẫn tại Công văn số 641/BTP-HCTP ngày 10/02/2006 của Bộ Tư pháp. Tuy nhiên, một số Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố phía Nam hiện đang lưu những sổ hộ tịch được lập từ trước năm 1975 (chỉ có một bộ duy nhất), do việc chia tách địa giới hành chính, nên không thực hiện được chuyển giao sổ hộ tịch cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện theo hướng dẫn tại Công văn nói trên. Đối với những sổ hộ tịch này, Sở Tư pháp vẫn tiếp tục lưu trữ, không chuyển giao cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

Về lâu dài, Sở Tư pháp cần báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất phương án nhân bản sổ gốc bằng cách sao chụp; hoặc xây dựng cơ sở dữ liệu về hộ tịch cung cấp cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện qua mạng tin học (trong trường hợp chưa nối mạng, thì cấp đĩa mềm) để làm căn cứ giải quyết các việc hộ tịch thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

2. Việc giải quyết yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính; bổ sung hộ tịch; điều chỉnh hộ tịch; cấp lại bản chính Giấy khai sinh; cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch trong trường hợp sổ hộ tịch đang lưu tại Sở Tư pháp

Khi công dân có yêu cầu về thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính; bổ sung hộ tịch; điều chỉnh hộ tịch; cấp lại bản chính Giấy khai sinh; cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch, mà việc giải quyết các yêu cầu đó cần đến thông tin trong sổ hộ tịch đang lưu tại Sở Tư pháp, thì Sở Tư pháp, nơi lưu trữ sổ hộ tịch có trách nhiệm tạo điều kiện cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện thẩm quyền của mình theo đúng quy định tại Nghị định số 158/2005/NĐ-CP. Uỷ ban nhân dân cấp huyện có Công văn đề nghị Sở Tư pháp cung cấp thông tin trong sổ hộ tịch lưu tại Sở Tư pháp. Sở Tư pháp cung cấp thông tin theo yêu cầu của Uỷ ban nhân dân cấp huyện bằng cách gửi trang photocopy sổ lưu hoặc trích lục thông tin trả lời bằng văn bản cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

Sau khi đã giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính; bổ sung hộ tịch; điều chỉnh hộ tịch; cấp lại bản chính Giấy khai sinh; Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải thông báo cho Sở Tư pháp để ghi chú vào sổ đăng ký hộ tịch lưu tại Sở Tư pháp.

3. Việc giải quyết yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính; cấp lại bản chính Giấy khai sinh thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp huyện, nhưng Sổ đăng ký khai sinh chưa chuyển lưu lên Uỷ ban nhân dân cấp huyện

Trong trường hợp Uỷ ban nhân dân cấp huyện giải quyết yêu cầu yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, cấp lại bản chính Giấy khai sinh, nhưng Sổ đăng ký khai sinh chưa chuyển lưu lên Uỷ ban nhân dân cấp huyện do chưa sử dụng hết sổ, thì cũng được giải quyết tương tự theo hướng dẫn tại điểm 2 Công văn này.

Riêng đối với những địa phương trước đây không thực hiện việc đăng ký kép, nên chỉ có 01 quyển sổ hộ tịch lưu tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, thì Sở Tư pháp xây dựng Đề án báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh khắc phục tình trạng này (có thể bằng cách photocopy sổ, có đóng dấu giáp lai, sau đó chuyển lưu về Uỷ ban nhân dân cấp huyện).

4. Việc giải quyết yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính trong trường hợp đương sự không có bản chính Giấy khai sinh

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 38 Nghị định số 158/2005/NĐ­­- CP , thì người yêu cầu thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính phải xuất trình bản chính Giấy khai sinh. Do đó, trong trường hợp bản chính Giấy khai sinh của đương sự bị mất, thì hướng dẫn đương sự làm thủ tục cấp lại bản chính Giấy khai sinh, sau đó mới làm thủ tục thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác định lại giới tính (mà không sử dụng bản sao Giấy khai sinh để giải quyết các trường hợp này).

5. Việc đăng ký khai sinh quá hạn cho trẻ em thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 96 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP

Việc đăng ký khai sinh quá hạn cho trẻ em thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 96 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP được thực hiện theo quy định tại các điều 43, 44 và 45 của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.

6. Việc kết hợp giải quyết việc cha nhận con và đăng ký khai sinh tại Uỷ ban nhân dân cấp xã

Việc kết hợp giải quyết việc cha nhận con và đăng ký khai sinh tại Uỷ ban nhân dân cấp xã được thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP.

Khi kết hợp giải quyết việc cha nhận con và đăng ký khai sinh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã vẫn phải ký Quyết định công nhận việc nhận con.

7. Việc ghi tên cha, mẹ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của người con (khi giải quyết đăng ký khai sinh quá hạn cho người đã thành niên trong trường hợp cha hoặc mẹ đã chết, mà cha mẹ không đăng ký kết hôn)

Trong trường hợp đăng ký khai sinh quá hạn cho người đã thành niên, nếu cha hoặc mẹ đã chết, mà cha mẹ không đăng ký kết hôn, thì người con phải làm thủ tục nhận cha hoặc mẹ (đã chết). Sau khi có quyết định công nhận việc nhận cha/mẹ, thì tên của người cha, người mẹ (đã chết) mới được ghi trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh của người con.

8. Về xác nhận của người làm chứng trong trường hợp đăng ký khai tử cho người chết tại nhà, ở nơi cư trú

Điểm k Khoản 2 Điều 22 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định: "Đối với người chết tại nhà ở nơi cư trú, thì văn bản xác nhận việc chết của người làm chứng thay cho Giấy báo tử".

Quy định này được áp dụng đối với trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch không biết rõ về việc chết; đối với những trường hợp khi giải quyết đăng ký khai tử mà cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ việc chết, thì không cần phải có xác nhận của người làm chứng.

9. Việc xác nhận tình trạng hôn nhân trong hồ sơ đăng ký kết hôn của những người đã cư trú tại nhiều địa phương khác nhau (kể cả cư trú ở nước ngoài)

Trong trường hợp một người đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nước ngoài), thì khi đăng ký kết hôn, ngoài việc xác nhận tình trạng hôn nhân của nơi cư trú hiện tại, đương sự phải viết tờ cam kết (không có mẫu riêng) và chịu trách nhiệm về cam kết của mình về tình trạng hôn nhân trong thời gian trước đó.

10. Ghi vào sổ việc xác nhận tình trạng hôn nhân trong Tờ khai đăng ký kết hôn

Việc xác nhận tình trạng hôn nhân trong Tờ khai đăng ký kết hôn cũng phải ghi vào Sổ cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để quản lý.

11. Cách thức xác định ngày, tháng sinh khi giải quyết yêu cầu bổ sung ngày, tháng sinh trong Giấy khai sinh

Trong trường hợp Giấy khai sinh của một người đã ghi năm sinh mà không ghi ngày, tháng sinh; nay người đó có yêu cầu ghi bổ sung, thì ngày, tháng sinh được xác định như sau:

a) Đối với những người đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên, mà trong các hồ sơ, giấy tờ đã ghi thống nhất về ngày, tháng sinh, thì xác định theo ngày, tháng sinh đó. Trường hợp ngày, tháng sinh ghi trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất với nhau, thì xác định theo ngày, tháng sinh trong hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên.

b) Đối với những người chưa có hồ sơ, giấy tờ cá nhân hoặc đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân, nhưng trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân cũng không ghi ngày, tháng sinh, thì ngày, tháng sinh được xác định theo lời khai của đương sự (có xác nhận của người làm chứng). Riêng trường hợp bổ sung ngày, tháng sinh cho trẻ em, thì ngày, tháng sinh của trẻ được xác định theo cam kết của cha, mẹ đẻ.

c) Trong trường hợp không xác định được ngày, tháng sinh theo hướng dẫn tại điểm a và b trên đây, thì ngày, tháng sinh là ngày 01 tháng 01 của năm đó.

12. Về mẫu bản chính Giấy chứng nhận kết hôn được sử dụng để cấp cho đương sự sau khi đã ghi chú vào sổ việc kết hôn đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Công dân Việt Nam ở nước ngoài về nước thường trú, đã ghi chú vào Sổ đăng ký kết hôn việc kết hôn đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định tại Mục 4 Chương III Nghị định số 158/2005/NĐ-CP, thì sau khi đã ghi chú, Giám đốc Sở Tư pháp ký và cấp cho đương sự bản chính Giấy chứng nhận kết hôn theo mẫu Bản chính - đăng ký lại - mẫu sử dụng tại Sở Tư pháp (mẫu số BTP/HT-2006-KH.3); riêng phần chữ ký của chồng, chữ ký của vợ chỉ ghi họ và tên của người chồng, người vợ (đã ký) mà không yêu cầu hai vợ chồng phải ký lại vào bản chính Giấy chứng nhận kết hôn.

13. Về mẫu bản sao giấy tờ hộ tịch được sử dụng để cấp cho công dân trong trường hợp cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ những việc hộ tịch mà trước đây Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã đăng ký

Trong trường hợp công dân có yêu cầu cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ các sổ hộ tịch (Sổ đăng ký khai sinh; Sổ đăng ký khai tử; Sổ đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch) mà các việc hộ tịch đó trước đây Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã đăng ký theo quy định tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, thì Sở Tư pháp dùng biểu mẫu bản sao dùng cho Sở Tư pháp được ban hành theo Quyết định số 01/QĐ-BTP ngày 31/3/2005 của Bộ Tư pháp để cấp cho công dân. Khi sử dụng biểu mẫu này, Sở Tư pháp bổ sung thêm phần ghi về họ tên, chức danh của người đã ký trước đây vào biểu mẫu hộ tịch.

14. Về cách tính thời hạn giải quyết các việc hộ tịch

Đối với những việc hộ tịch mà Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định về thời hạn giải quyết, thì thời hạn được tính theo ngày làm việc.

Trên đây là một số hướng dẫn về nghiệp vụ hộ tịch, đề nghị các cơ quan Tư pháp địa phương triển khai thực hiện. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, thì phản ánh ngay về Bộ Tư pháp (Vụ Hành chính tư pháp) để có hướng dẫn kịp thời.

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Thứ trưởng Hoàng Thế Liên
(để báo cáo)
- Lưu: VP, Vụ HCTP.
 

TL. BỘ TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ HÀNH CHÍNH TƯ PHÁP 



 
Trần Thất

Thủ tục đăng kí kết hôn gồm những bước nào?

http://www.sotuphap.hochiminhcity.gov.vn/tthc/Lists/Posts/Post.aspx?List=20ef509c-6e8a-4396-886b-dcbecc1d0f12&ID=26

Đăng ký kết hôn


 

Tên thủ tục hành chính
Đăng ký kết hôn (trong nước, không có yếu tố nước ngoài)
Cơ quan tiếp nhận, giải quyết hồ sơ
Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn
Đối tượng giải quyết
1. Điều kiện kết hôn
1.1. Về độ tuổi: nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên (độ tuổi được xác định như sau: từ 20 tuổi và từ 18 tuổi là tính sau ngày sinh nhật lần thứ 19 đối với nam và sau ngày sinh nhật lần thứ 17 đối với nữ)
1.2. Về ý chí tự nguyện kết hôn: việc kết hôn do hai bên nam và nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cưỡng ép hoặc cản trở.
1.3. Việc kết hôn bị cấm trong các trường hợp sau đây:
- Cấm kết hôn với người đang có vợ hoặc đang có chồng.
- Cấm kết hôn với người mất năng lực hành vi dân sự.
- Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu trực về hệ (là giữa ông bà với cháu nội hoặc ngoại; cha, mẹ đẻ với con đẻ); giữa những người có họ trong phạm vi ba đời (là giữa Bác, chú, cô, cậu, dì với cháu ruột; giữa anh, chị em con chú con bác, con cô với nhau; con cậu, con dì con dà với nhau)
- Cấm kết hôn giữa những người có quan hệ cha, mẹ nuôi với con nuôi hoặc đã từng có quan hệ giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với nàng dâu, mẹ vợ với con rễ, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.
- Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính.
2. Thẩm quyền giải quyết
2.1. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của bên nam hoặc bên nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn.
- Nếu cả hai bên kết hôn (bên nam và bên nữ) đều có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi họ đăng ký hộ khẩu thường trú (nếu cùng ở một nơi) hoặc họ có quyền lựa chọn nơi đăng ký kết hôn là Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên nam hoặc bên nữ đăng ký hộ khẩu thường trú (nếu không cùng ở một nơi);
- Nếu chỉ bên nam hoặc bên nữ có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú còn bên kia có đăng ký tạm trú có thời hạn thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên nam hoặc bên nữ đăng ký hộ khẩu thường trú.
- Nếu cả bên nam nữ đều không có hoặc chưa có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú nhưng có đăng ký tạm trú có thời hạn thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bên nam hoặc bên nữ đăng ký tạm trú có thời hạn.
2.2. Trong trường hợp cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn đã cắt hộ khẩu thường trú ở trong nước thì việc đăng ký kết hôn được thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú trước khi xuất cảnh của một trong hai bên nam, nữ.
Thành phần hồ sơ
Hồ sơ đăng ký kết hôn lập thành 01 bộ hồ sơ, gồm các giấy tờ sau:
1. Các loại giấy tờ phải nộp:
1.1. Tờ khai đăng ký kết hôn (theo mẫu To khai dang ky ket hon.doc đính kèm)
- Nếu cả hai bên nam, nữ cùng cư trú tại một xã, phường, thị trấn hoặc cùng công tác tại một đơn vị trong lực lượng vũ trang nhân dân, thì hai bên kết hôn chỉ cần khai vào một Tờ khai đăng ký kết hôn.
- Trong trường hợp hai bên nam nữ nộp bản chính Tờ khai ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân thì không cần nộp bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân vì hai loại giấy tờ này đều có giá trị chứng minh về tình trạng hôn nhân của bên kết hôn.
1.2. Bản chính Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để làm thủ tục đăng ký kết hôn (do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của bên nam, bên nữ cấp).
- Trường hợp hai bên nam, nữ có nơi cư trú khác nhau thì bên nam hoặc bên nữ đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân cấp xã không phải nơi cư trú của mình phải nộp xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về tình trạng hôn nhân.
- Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước ngoài về nước đăng ký kết hôn thì phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao, Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó.
- Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang thì thủ trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân.
2. Các loại giấy tờ phải xuất trình:
- Bản chính Giấy chứng minh nhân dân của hai bên nam, nữ.
- Bản chính Giấy tờ về hộ khẩu (của bên có hộ khẩu thường trú tại nơi xin đăng ký).
Thời hạn giải quyết
05 ngày làm việc, kể từ ngày Ủy ban nhân dân cấp xã nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp cần xác minh thì thời gian giải quyết là 10 ngày làm việc.
Lệ phí
20.000 đồng
Thông tin lưu ý
- Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc Tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận tình trạng hôn nhân trong hồ sơ đăng ký kết hôn của hai bên nam nữ phải là bản chính. Không sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã ghi mục đích sử dụng khác để làm thủ tục đăng ký kết hôn, không sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân đã ghi mục đích làm thủ tục đăng ký kết hôn để sử dụng vào mục đích khác.
- Trường hợp bên kết hôn là người đã có vợ, có chồng nhưng đã ly hôn hoặc người kia đã chết thì phải xuất trình bản chính bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật về việc ly hôn hoặc bản sao Giấy chứng tử của người vợ (hoặc người chồng) đã chết khi yêu cầu cấp xác nhận về tình trạng hôn nhân.
Biểu mẫu
 


Số lượt người xem: 7024    






http://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20070613203345AAVJdBT

Câu hỏi đã giải đáp

Xem câu khác »

Thủ tục đăng kí kết hôn gồm những bước nào?

Câu trả lời hay nhất - Do người đặt câu hỏi bình chọn

Quy định về trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn như sau:
Việc đăng ký kết hôn phải được thực hiện tại Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của một trong hai bên nam, nữ.

Thủ tục đăng ký kết hôn:
Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải có mặt, nộp tờ khai đăng ký kết hôn và xuất trình các giấy tờ sau đây:
Giấy khai sinh của mỗi bên;
Sổ hộ khẩu gia đình của bên nam hoặc bên nữ nơi đăng ký kết hôn.
Giấy chứng minh nhân dân của mỗi bên.
(Còn thiếu giấy Chứng nhận độc thân của Ủy ban xã nơi cư trú)

Trong trường hợp không có đủ các giấy tờ nêu trên, thì phải có giấy tờ hợp lệ thay thế.
Trong trường hợp nghi ngờ một bên hoặc cả hai bên nam nữ bị mắc bệnh tâm thần không có khả năng nhận thức được hành vi của mình, đang mắc bệnh hoa liễu, thì phải có giấy khám sức khoẻ của cơ quan y tế cấp huyện.
Tờ khai đăng ký kết hôn phải có xác nhận của cơ quan, đơn vị nơi công tác (đối với cán bộ, công chức, người lao động, lực lượng vũ trang nhân dân), hoặc của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú (đối với nhân dân) của mỗi bên về tình trạng hôn nhân. Việc xác nhận tình trạng hôn nhân này có giá trị không quá 30 ngày.
Trong trường hợp một trong hai người không thể đến nộp hồ sơ xin đăng ký kết hôn mà có lý do chính đáng, thì có thể gửi cho Uỷ ban nhân dân nơi đăng ký kết hôn đơn xin nộp hồ sơ vắng mặt, trong đơn phải nêu rõ lý do vắng mặt, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.

Thời hạn đăng ký kết hôn:
Khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải tiến hành xác minh điều kiện kết hôn và niêm yết công khai việc xin đăng ký kết hôn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân trong thời hạn 7 ngày. Nếu cần phải xác minh thêm, thì thời hạn kéo dài không quá 7 ngày.
Sau thời hạn nói trên, nếu xét thấy hai bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và không có sự khiếu nại, tố cáo về việc kết hôn, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã phải thông báo cho hai bên nam nữ biết về ngày đăng ký.
Sau thời hạn 7 ngày, kể từ ngày thông báo, nếu hai bên nam nữ không đến đăng ký kết hôn mà không có lý do chính đáng, thì Uỷ ban nhân dân huỷ việc xin đăng ký kết hôn đó và thông báo cho đương sự biết.

Lễ đăng ký kết hôn:
Lễ đăng ký kết hôn được tổ chức trang trọng tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi đăng ký.
Tại lễ đăng ký kết hôn, hai bên nam nữ phải có mặt, đại diện Uỷ ban nhân dân cấp xã hỏi ý kiến lần cuối của hai bên, nếu hai bên vẫn đồng ý kết hôn với nhau, thì cán bộ hộ tịch tư pháp mời họ cùng ký tên vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và trao cho mỗi bên một bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Bản sao và số lượng bản sao Giấy chứng nhận kết hôn được cấp theo yêu cầu của hai bên nam nữ.
Đánh giá của người hỏi:
Ý kiến của người đặt câu hỏi:
thanks

Thứ Năm, 21 tháng 3, 2013

Có đăng ký xe sẽ không bị phạt lỗi 'không chính chủ'

http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2013/03/co-dang-ky-xe-se-khong-bi-phat-loi-khong-chinh-chu/

Có đăng ký xe sẽ không bị phạt lỗi 'không chính chủ'

Cảnh sát sẽ không dừng phương tiện để phạt lỗi không sang tên đổi chủ mà chỉ xử lý lỗi này khi làm lại đăng ký, cấp biển số, giải quyết tai nạn, điều tra án hình sự. Người dân chỉ cần có đăng ký xe.
> Sang tên chính chủ xe tối đa 30 ngày / Cảnh sát không được dừng xe xử lý lỗi 'không chính chủ'

Ngày 15/4, cảnh sát giao thông bắt đầu xử phạt xe không sang tên đổi chủ hoặc sang tên muộn so với quy định, theo Thông tư 11 của Bộ Công an. Trao đổi với VnExpress.net, đại tá Đào Vịnh Thắng, Trưởng phòng CSGT Hà Nội cho biết, đã có văn bản hướng dẫn cụ thể và phổ biến về việc xử lý cho các đội CSGT.

Cảnh sát chỉ xử phạt lỗi như vượt đèn đỏ, đi sai làn, không phạt lỗi không sang tên đổi chủ nếu người vi phạm xuất trình được giấy tờ. Ảnh: Bá Đô

Theo ông Thắng, Thông tư 11 hướng dẫn cụ thể: "CSGT không được dừng các phương tiện đang lưu thông trên đường khi không có dấu hiệu vi phạm để hỏi và xử lý với lỗi xe không chính chủ". Do đó, với những xe vi phạm giao thông khi xử phạt cảnh sát sẽ không hỏi, điều tra xe chính chủ hay không, cũng như không cộng dồn lỗi "xe không chính chủ" với các lỗi khác.

Thông tư 11 hướng dẫn, việc xử lý phương tiện không sang tên đổi chủ chỉ thông qua việc đăng ký, cấp biển số, điều tra giải quyết tai nạn giao thông; qua phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, các trường hợp bị tạm giữ phương tiện theo quy định. Qua điều tra các vụ án hình sự nếu phát hiện người mua hoặc bán không làm thủ tục sang tên thì công an phải xác minh hành vi vi phạm và ra quyết định xử phạt nếu quá 30 ngày làm giấy mua bán xe nhưng chưa sang tên.

Tuy nhiên, theo ông Thắng, trong quá trình xử lý vi phạm, nếu người điểu khiển phương tiện xuất trình được đăng ký xe, giấy phép lái xe, cảnh sát chỉ xử phạt lỗi mà người vi phạm gặp phải như vượt đèn đỏ, đi sai làn... Còn những trường hợp vi phạm mà không xuất trình được các giấy tờ cần thiết (bằng lái và đăng ký xe) thì sẽ bị lập biên bản và giữ xe 10 ngày theo quy định.

Trong 10 ngày, khi người vi phạm xuất trình được giấy tờ sẽ chỉ bị phạt lỗi không mang theo giấy tờ. Quá 10 ngày vẫn chưa xuất trình được giấy tờ cần thiết, cảnh sát buộc phải xác minh và điều tra nguồn gốc xe, nếu phát hiện xe không sang tên đổi chủ thì sẽ bị xử lý theo quy định. Cụ thể, theo Nghị định 71, xe máy sẽ bị phạt 800.000 - 1,2 triệu đồng (mức phạt trung bình một triệu đồng), ôtô bị phạt 6-10 triệu (mức phạt trung bình 8 triệu đồng).

Đại tá Thắng cho rằng, Thông tư 12 mới đây của Bộ Công an hướng dẫn thủ tục đăng ký sang tên đổi chủ rất nhanh gọn và thuận lợi, nếu trong tỉnh thì chỉ 2 ngày là đã có đăng ký mới, còn xe khác tỉnh thì chậm nhất là 30 ngày. "Khi mua bán xe người dân cũng cần tự ý thức đi đăng ký sang tên đổi chủ theo quy định", ông Thắng nói thêm.

Trước đó, tại cuộc họp với các bộ, ngành liên quan về quy định xử phạt xe không chính chủ, Bộ trưởng Giao thông Vận tải Đinh La Thăng cho rằng, quy định xử phạt hành vi không chuyển quyền sở hữu phương tiện đã có, song quá trình thực hiện cho thấy tính khả thi không cao nên đề nghị không đưa vào dự thảo. Trong khi đó, khi đại diện Bộ Công an khẳng định, quy định về xử phạt xe không sang tên đổi chủ trong Thông tư 11 đã nêu rất rõ, nên bắt đầu từ ngày 15/4 cảnh sát giao thông sẽ vẫn áp dụng theo quy định.

Bá Đô

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

Cán bộ cởi áo đòi “xử” người vi phạm là của Đội Quản lý trật tự đô thị

http://dantri.com.vn/phap-luat/can-bo-coi-ao-doi-xu-nguoi-vi-pham-la-cua-doi-quan-ly-trat-tu-do-thi-689504.htm
Thứ Sáu, 25/01/2013 - 20:55   

Nam Định:

Cán bộ cởi áo đòi "xử" người vi phạm là của Đội Quản lý trật tự đô thị

(Dân trí) - Liên quan đến vụ "Thanh tra giao thông cởi áo đòi "xử" người vi phạm giao thông" xảy ra ngày 24/1, TTGT tỉnh Nam Định đã vào cuộc xác minh và đã xác định được 2 cán bộ liên quan là cán bộ thuộc Đội Quản lý trật tự đô thị thành phố Nam Định.
 >> Thanh tra giao thông cởi áo đòi "xử" người vi phạm giao thông?

Như Dân trí đã phản ánh theo tường trình của anh Nguyễn Văn Hải, vào lúc 12 giờ 45 phút ngày 24/1, anh Hải điều khiển xe máy đèo theo một đồng nghiệp đi đến đoạn qua dưới chân cầu vượt thành phố Nam Định - đường rẽ về Thái Bình.

Ông Hoàng Xuân Trường, thuộc Đội QLTTĐT thành phố Nam Định, người cởi áo đòi xử người vi phạm giao thông.

Tại đây có 2 cán bộ tự xưng là Thanh tra giao thông Nam Định, không đeo phù hiệu, điều khiển chiếc xe máy đến yêu cầu anh Hải xuất trình giấy tờ để kiểm tra.

Sau đó, giữa hai bên đã có lời qua tiếng lại với nhau và một trong hai người này đã lớn tiếng cởi áo đòi "xử" anh Hải.

Theo lãnh đạo Thanh tra giao thông tỉnh Nam Định, ngay khi biết thông tin về sự việc trên, Thanh tra giao thông tỉnh Nam Định đã tiến hành rà soát và xác định hai cán bộ có hành vi trên là người của Đội Quản lý trật tự đô thị (QLTTĐT) thành phố Nam Định.

Đồng thời, ngay sáng ngày 25/1, Thanh tra giao thông tỉnh Nam Định đã làm việc với lãnh đạo Đội QLTTĐT thành phố và được xác nhận hai cán bộ của đội này chính là hai nhân vật có hành vi hành xử kiểu giang hồ như đã phản ánh.

Đơn phản ánh của anh Nguyễn Văn Hải.

Tại buổi làm việc với Thanh tra Sở giao thông vận tải tỉnh Nam Định, ông Bùi Ngọc Trung - Đội trưởng Đội QLTTĐT thành phố Nam Định đã xác nhận: Hai cán bộ trong ảnh của bài báo có tên là Trần Văn Long (sinh năm 1975) và Hoàng Xuân Trường (sinh năm 1984), thuộc Đội QLTTĐT thành phố Nam Định trực tiếp quản lý.

Cũng theo Thanh tra giao thông tỉnh Nam Định, Đội QLTTĐT chỉ có chức năng làm nhiệm vụ quản lý trật tự đô thị trong phạm vị địa bàn thành phố Nam Định, không có chức năng xử phạt vi phạm hành chính. Theo Luật Thanh tra, tại tỉnh Nam Định chỉ có duy nhất một đơn vị có chức năng thanh tra chuyên ngành giao thông vận tải là Thanh tra Sở giao thông vận tải tỉnh Nam Định.

Liên quan đến vụ việc, ngay sáng ngày 25/1, UBND thành phố Nam Định cũng đã tiếp nhận thông tin, đồng thời chỉ đạo Đội QLTTĐT thành phố đình chỉ công tác ngay đối với 2 cán bộ có hành vi trên, yêu cầu điều tra làm rõ sự việc.

Cũng trong sáng ngày 25/1, lãnh đạo Đội QLTTĐT thành phố Nam Định đã họp, ra quyết định đình chỉ công tác đối với hai cán bộ nêu trên. Đồng thời, yêu cầu Trần Văn Long và Hoàng Xuân Trường làm biên bản tường trình lại toàn bộ sự việc.

Nhiều đơn vị có sắc phục tương tự nhau rất dễ gây sự nhầm lẫn.

Chiều ngày 25/1, trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Nguyễn Minh Thuỵ, Chánh thanh tra giao thông tỉnh Nam Định cho biết: "Ngay sau khi tiếp nhận thông tin, chúng tôi đã tiến hành xác minh và làm rõ vấn đề báo nêu. Qua xác minh thì hai cán bộ đó là của Đội QLTTĐT thành phố. Việc mang sắc phục của một số đơn vị hiện tại là tương tự nhau nên rất dễ gây nhầm lẫn. Qua đây, chúng tôi cũng đề nghị UBND tỉnh Nam Định rà soát, chấn chỉnh tình trạng việc một số trang phục của các đơn vị giống với thanh tra giao thông. Việc lực lượng trật tự đô thị Nam Định ghi tên hiệu, mặc trang phục gần giống, gây nhầm lẫn với Thanh tra giao thông.

Duy Tuyên

“Xử” thế nào với 30% công chức... cắp ô?

http://dantri.com.vn/su-kien/xu-the-nao-voi-30-cong-chuc-cap-o-690360.htm
Thứ Hai, 28/01/2013 - 14:37   

"Xử" thế nào với 30% công chức... cắp ô?

Nuôi không những cán bộ, công chức vô dụng này ngày nào là bất công ngày đó.
 >> "30% số công chức sáng cắp ô đi, tối cắp về"

 

Ảnh minh họa.

 

Tôi có một ông bạn, (nói thật ra thì vài ông, thậm chí là nhiều ông), đã lâu lắm rồi tôi không biết anh làm chính xác việc gì… Ngày nào cũng thế, khoảng gần 10 giờ anh mới lững thững thò mặt đến cơ quan. Đến nơi, anh thong thả cởi áo khoác, đun nước, pha trà, rồi ngồi ngả người khoan khoái trên cái ghế da mềm mại, một tay cầm thuốc lá, tay kia lật giở mấy tờ báo mới. Anh có biệt tài là điểm ngay ra được những tin "hot" để phổ biến cho cả phòng nghe, chêm vào những bình luận cực kỳ sâu sắc, chua cay rồi tự thưởng cho mình những tràng cười sảng khoái.

 

Uống trà chán, anh bật máy tính lên lướt web, đọc tin, người mẫu, ca sĩ hay hoa hậu... mà hở ra cái gì là thế nào anh cũng biết…

 

Anh làm hết ngần đấy việc thì cũng là lúc trưa đến, thế là anh bốc điện thoại rủ người này, người khác đi ăn. Ăn chán, uống chán rồi về bắc chân lên bàn đánh một giấc đến quá hai giờ chiều mới dậy.

 

Dậy rồi anh lại làm nguyên hầu hết việc của ban sáng: pha trà, đọc tin và… chém gió. Lạ một điều là anh cực kỳ bất mãn về thời cuộc. Suốt ngày than vãn về những hạn chế, bất cập, rồi nói xấu người khác như ranh, kể cả lãnh đạo từ thấp lên cao...

 

Chẳng cần nói thì bạn cũng biết, anh làm cho Nhà nước. Thời buổi này, chỉ có thể trong môi trường bao cấp mới có những người chỉ lĩnh lương và nói phét như thế. Tôi vẫn thường quan sát anh và những người giống anh, đáng ngại là thành phần này có vẻ đang ngày càng thêm nhiều hơn. Có lẽ chả có gì phi lý được hơn thế!

 

Thế nên, lần đầu tiên nghe nghe một Phó Thủ tướng định lượng được là hiện nay cả nước có 30% công chức "có cũng như không", "sáng cắp ô đi, tối cắp ô về", thực lòng tôi vừa thấy sướng, lại vừa thấy cay đắng, bất bình.

 

Sướng là vi cái sự kém hiệu lực, hiệu quả của đội ngũ cán bộ, công chức đã được vạch ra cụ thể, rõ ràng chứ không chung kiểu "một bộ phận không nhỏ" nữa. một khi Phó Thủ tướng đã nói, tức là Chính phủ đã thấy rõ và sốt ruột lắm rồi. Hy vọng sau đây sẽ có những bước chuyển dứt khoát, tích cực.

 

Cay đắng, bất bình là vì Nhà nước và Nhân dân phải nuôi báo cô nhiều và lâu quá. 30% của 2,8 triệu, có nghĩa là 840.000 người. Nếu chỉ tính một lương tôi thiểu thì mỗi năm đã mất không cả chục ngàn tỷ đồng. Chưa nói hàng tấn tiền chi cho cơ sở vật chất, kỹ thuật, văn phòng phẩm, xăng xe… để đám người này "hoạt động". Đây là cách tính khiêm tốn, tôi không dám tính đúng, tính đủ vì càng tính càng xót ruột. Số tiền này nếu bỏ ra xây thêm trường học, bệnh viện ở vùng sâu, vùng xa hay đem cứu tế cho những người nghèo khó, cơ nhỡ trong xã hội thì tốt đẹp và có ích biết bao nhiêu.

 

Nuôi đám người này không chỉ tốn kém tiền của, hệ lụy mà họ gây ra còn khủng khiếp hơn nhiều. Bất ổn trong cơ quan, đơn vị phần lớn do đám này gây ra. Vì không làm mà chỉ nói là chính, nên họ nói hay như chim hót. Họ làm cho những người tích cực, có năng lực đâm ra chán nản, mất niềm tin. Thế là hiệu quả hiệu lực của tổ chức, bộ máy cũng giảm đi. Nói chung là hình ảnh của bộ máy Nhà nước trong xã hội sẽ bị méo mó đi nhiều.

 

Nuôi không những cán bộ, công chức vô dụng này ngày nào là bất công ngày đó. Bất công sẽ dẫn đến bất bình, mất niềm tin, mất uy tín và mất nhiều thứ khác…

 

Cho nên, một khi đã định lượng được những cán bộ, công chức ăn hại rồi, đề nghị Chính phủ phải quyết tâm, nhanh chóng, tích cực, huy động toàn bộ hệ thống chính trị vào cuộc, có giải pháp đuổi cổ họ khỏi các cơ quan Nhà nước, dành chỗ ấy cho những người trẻ tuổi, có trình độ, có tâm huyết mà vì lý do nào đó chẳng bao giờ lọt được vào khu vực công với cơ chế tuyển dụng, lựa chọn như hiện nay.

 

Tất nhiên, hô hào đuổi hết những kẻ vô dụng ra khỏi bộ máy có khi chỉ là khẩu hiệu phải hô nhiều lần và trong thời gian rất dài. Bởi vì đào thải được những người như thế không dễ, nếu chúng ta không có một cơ chế căn bản, khoa học về tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, đãi ngộ, đào thải cán bộ, công chức. Cơ chế mới là điều quan trọng, vì trong cơ chế tốt, kẻ lười nhác có thể hóa thành người chăm chỉ, chuyên cần và ngược lại, với một cơ chế bị lỗi thì người thông minh, chăm chỉ, có năng lực vẫn có nguy cơ trở thành những kẻ lười nhác và ăn hại…

 

Tuy vậy, muốn nói gì thì nói, không thể để tình trạng bất công, phi lý như thế này kéo dài mãi được.

 

Theo Phạm Kinh Bắc

VOV

Thứ Hai, 25 tháng 6, 2012

Ruộng bậc thang Mù Cang Chải: Kỳ quan của đôi bàn tay

http://www.baoyenbai.com.vn/226/66951/Ruong_bac_thang_Mu_Cang_Chai_Ky_quan_cua_doi_ban_tay.htm

Ruộng bậc thang Mù Cang Chải: Kỳ quan của đôi bàn tay

Cập nhật: Chủ nhật, 26/9/2010 | 8:42:34 AM
YBDDT - Ai đã đến với Mù Cang Chải đều phải trầm trồ ngưỡng mộ trước vẻ đẹp của những thửa ruộng bậc thang nối tiếp trên triền núi. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi Bộ Văn hoá, Thể Thao và Du lịch đã xếp ruộng bậc thang thuộc ba xã La Pán Tẩn, Chế Cu Nha và Dế Xu Phình là Di tích danh thắng cấp quốc gia.
Mùa vàng Mù Cang Chải. (Ảnh: Vũ Chiến)

Thông tin liên quan:

Lịch sử hình thành ruộng bậc thang ở Mù Cang Chải gắn liền với lịch sử cư trú của tộc người Mông, là tác giả của những thửa ruộng bậc thang, chủ nhân cư trú đầu tiên tại vùng đất này. Ruộng là một phương thức canh tác nông nghiệp kết hợp nhuần nhuyễn giữa canh tác nương rẫy và ruộng nước. Khai khẩn ruộng bậc thang là một quá trình công phu, tốn nhiều công sức.

Theo kinh nghiệm của đồng bào, đó là nơi có độ dốc vừa phải, có nguồn nước, có khả năng tạo mặt bằng, ít sỏi đá, cây to, cỏ mọc dày và tốt là vùng đất thích hợp để khai khẩn. Sau khi đã lựa chọn được mảnh đất ưng ý, việc tiếp theo là xác lập quyền khai khẩn.

Ruộng bậc thang La Pán Tẩn. (Ảnh: Thanh Miền)

Đồng bào có thể chồng các cột đá cao khoảng 1m, hoặc chặt ngọn một số cây gỗ lớn trên mảng đất đó làm dấu hiệu xác lập quyền khai khẩn. Khi đã huy động được lực lượng và điều kiện thời tiết thuận lợi, việc khai khẩn được tiến hành. Việc này thường được tiến hành vào mùa xuân  (khoảng tháng 1, 2, 3 ) để có thể tháo nước vào sử dụng ngay trong tháng  4, 5 cho kịp thời vụ.

Để làm ruộng, trước hết phải phát cỏ và các loại cây nhỏ, dọn sạch mặt đất, sau đó dùng cuốc đánh các gốc to rồi tiến hành đào và san. Khó khăn nhất là tạo mặt bằng cho ruộng. Mặt bằng ruộng có liên quan đến việc giữ nước và chia đều nước cho toàn ruộng . Việc đào và san ruộng là khâu kỹ thuật đòi hỏi các kỹ năng trong việc khai khẩn ruộng bậc thang. Ruộng đạt tiêu chuẩn phải đủ 2 tiêu chí cơ bản là mặt bằng ruộng và nguồn nước ngâm chân cho lúa. Người Mông nơi đây đã làm được điều này trong điều kiện hết sức khó khăn để đảm bảo cho việc canh tác lúa nước trên sườn đồi và chân các quả đồi.

Việc tiếp theo là làm bờ ruộng. Trong hệ thống ruộng bậc thang, bờ ruộng  là yếu tố quan trọng đóng vai trò là "bức tường" giữ nước. Bờ ruộng được tiến hành làm ngay từ khi san ruộng, đất làm bờ lấy ngay từ chỗ san gạt ở phía mép cuối của mặt bằng thửa ruộng. Người ta thường dùng cuốc bướm cào đất thành bờ, dùng chân dẫm và gáy cuốc đập mạnh vào để nén chặt bờ ruộng. Độ chênh lệch giữa thửa ruộng trên và thửa dưới thường là 1- 1,5 m. Khi có nước tháo vào ruộng, bờ sẽ cứng lại.

Công việc khai khẩn được nối tiếp từ năm này qua năm khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên các triền ruộng tựa như những bức tranh nghệ thuật hoành tráng treo trên các sườn đồi. Đây là nét độc đáo của loại hình canh tác mang đậm sắc thái của cư dân vùng cao khu vực Đông Nam Á. Toàn bộ huyện Mù Cang Chải có diện tích 119.908,75 ha thì 3 xã La Pán Tẩn, Chế Cu Nha, Dế Xu Phình có tổng diện tích là 12.035,48 ha, Trong đó diện tích ruộng bậc thang là 330,11 ha. Diện tích này tuy nhỏ nhưng là những kì tích hàng trăm năm khai phá của đồng bào 3 xã từ bao đời nay. Nằm sát cạnh nhau, trong đó Dế Xu Phình nằm ở tả ngạn dòng Nậm Kim cách trung tâm huyện lỵ 20 km; La Pán Tẩn, Chế Cu Nha nằm bên hữu ngạn dòng Nậm Kim trên đường vào trung tâm huyện Mù Cang Chải.

Tới đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những "mâm xôi vàng", "mâm xôi xanh" hiện lên hoành tráng giữa bạt ngàn núi rừng Tây Bắc. Đây đang là điểm thu hút khách du lịch từ mọi miền đến thăm quan. Dừng chân tại 3 xã, đâu đâu cũng thấy những thửa ruộng bậc thang xếp tầng, xếp lớp trải rộng khắp các quả đồi. Đặc biệt, từ trên lưng chừng núi mới thật sự là những công trình văn hoá tuyệt tác của các nghệ nhân sáng tạo ra nó. Do địa hình nơi này là núi cao, vực sâu, cắt xẻ nhiều nên mỗi "mâm xôi" đều được xen giữa các khe nước lớn nhỏ, trập trùng là những rừng thông bạt ngàn. Cứ thế: ruộng, rừng, khe, suối... tầng tầng, lớp lớp xếp lên nhau. Càng lên cao, ta càng thấy thú vị bởi sự kỳ vĩ, hoành tráng của núi rừng, bởi sự trong lành của khí hậu nơi đây...

Ngược thời gian, ngay từ khi định cư vào Việt Nam, người Mông đã lấy trồng trọt là phương thức sinh sống chủ yếu. Trong nông nghiệp, trồng cây lúa trên ruộng bậc thang được đặt lên hàng đầu. Với điều kiện sống khắc nghiệt của vùng cao, việc khai khẩn và canh tác ruộng bậc thang gặp không ít khó khăn do thiên  nhiên và xã hội mang lại  và các tín ngưỡng thường được hình thành khi con người không giải thích được các hiện tượng tự nhiên. Người Mông Mù Cang Chải đã thực hiện các nghi thức và tín ngưỡng, họ tin rằng làm thế  sẽ hạn chế được tới mức thấp nhất những rủi ro tác động đến con người và sản xuất.

 Để khai hoang tạo ra những thửa ruộng bậc thang trong quá trình khai khẩn, không ít người gặp tai nạn  rủi ro  trong các trường hợp như bị đá lăn vào chân, vào người, bị rắn cắn, bị lợn rừng húc, bị dao phát vào chân... Những trường hợp như vậy người dân quan niệm là cái hồn của mình đã bỏ mình ra đi, do đó phải mời thầy cúng gọi hồn về.

Thầy cúng người Mông phải là người già, được học nghề từ khi còn bé. Lễ vật chuẩn bị để cúng gọi hồn gồm: 1 bát gạo, 1 con gà, 1 chén rượu, 1 quả trứng, 1 que hương. Lễ vật đó được đặt ở góc ruộng, nơi gia chủ có người bị nạn. Thầy cúng cầm que hương hua lên trời đọc bài cúng gọi hồn về nhập vào người bị hại để người đó tiếp tục công việc làm ăn. Cúng xong, bài cúng được thầy cúng nhúng vào rượu và đốt ngay tại ruộng. Bên cạnh đó,  còn các nghi thức liên quan đến quá trình canh tác ruộng vẫn còn tồn tại trở thành nét văn hóa như nghi thức cầu mưa, lễ mừng cơm mới...

Từ bàn tay lao động cần cù, ruộng bậc thang Mù Cang Chải đã trở thành kỳ quan, là danh thắng quốc gia. Để khai thác tốt tiềm năng ruộng bậc thang, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân các dân tộc Mù Cang Chải đang ra sức sản xuất, đẩy mạnh khai hoang, thâm canh tăng vụ..., đồng thời tôn tạo, gìn giữ, kết hợp ruộng bậc thang với bảo vệ thiên nhiên, duy trì lễ hội văn hoá cổ truyền như: mừng cơm mới, hội Gầu tào, đánh pao, bắn nỏ... Nét văn hóa đặc sắc vùng cao và vẻ đẹp tuyệt vời của ruộng bậc thang đã tạo nên một Mù Cang Chải đẹp và hấp dẫn trong lòng du khách mỗi khi đến nơi đây.

Mời các bạn đón xem một số hình ảnh về Danh thắng ruộng bậc thang Mù Cang Chải:

Chuẩn bị cho vụ mùa. (Ảnh: Thanh Miền)

Nhờ sự cần cù chịu khó của người Mông mà những thửa ruộng bậc thang nơi đây được ví như vân núi. (Ảnh: Thanh Miền)

Nối vụ. (Ảnh: Thanh Miền)

Lúa vàng từ thung lũng đến lưng trời. (Ảnh: Thanh Miền)

Màu vàng của núi. (Ảnh: Thanh Miền)

Thiên nhiên và con người Mù Cang Chải đã làm lên một danh thắng tuyệt vời với sắc xanh của núi, màu vàng của lúa - sự no ấm đang hồi sinh.

Nguyễn Đình

(Chơi cho vui) AIRDROP CHAINGE FINANCE - dự án xây dựng ứng dụng ngân hàng số cho mọi người

 Không hiểu lắm về cái này, tuy nhiên thấy quảng cáo khá nhiều, lại chỉ cung cấp vài thông tin cá nhân (mà mấy ông lớn như facebook với goog...