Thứ Ba, 30 tháng 4, 2013

"Bóng ma" B-2 có gì mà làm Triều Tiên nổi giận?


"Bóng ma" B-2 có gì mà làm Triều Tiên nổi giận?

(Kienthuc.net.vn) - Máy bay ném bom B-2 được thiết kế với khả năng tàng hình trước radar tuyệt vời, có khả năng vượt qua hệ thống phòng không tinh vi, tối tân nhất.
Ngay sau khi Mỹ triển khai máy bay ném bom chiến lược B-2 tới Hàn Quốc tham gia tập trận chung Mỹ - Hàn. Phía Triều Tiên ngay lập tức có những phản ứng quyết liệt nhất, Chủ tịch Kim Jong-un ký ra lệnh cho các đơn vị tên lửa chiến lược sẵn sàng mở cuộc tấn công Mỹ - Hàn. 

Hành động này tỏ ra quyết liệt hơn rất nhiều so với khi Mỹ điều máy bay ném bom chiến lược B-52 tới Hàn Quốc. Vậy, tại sao Triều Tiên lại có động thái mạnh mẽ hơn so với lần trước đó? Câu trả lời có lẽ là, máy bay B-2 nguy hiểm hơn hẳn so với B-52 và Triều Tiên có rất ít khả năng tiêu diệt B-2.

"Bóng ma" B-2 đáng sợ cỡ nào? 

B-2 Spirit (Bóng ma) là máy bay ném bom chiến lược do Tập đoàn Northrop Grumman phát triển từ những năm 1980 nhằm đối phó với Liên Xô. Máy bay có khả năng thực hiện nhiệm vụ oanh tạc mục tiêu bằng bom thông thường hoặc bom hạt nhân. 

Điểm đáng sợ của B-2 ở đây không tới từ khả năng mang nhiều bom (như B-52), hay bay tốc độ siêu thanh (như B-1B), mà là khả năng tàng hình. Điều đó cho phép nó thâm nhập vào hệ thống phòng không tinh vi, dày đặc nhất của đối phương. 
Máy bay ném bom tàng hình B-2 có kiểu dáng cực kỳ độc đáo.

Khả năng tàng hình của B-2 có được nhờ sự kết hợp nhiều công nghệ về thiết kế kiểu dáng, vật liệu. Đây là những cách thiết kế máy bay tàng hình phổ biến trên thế giới nhằm giúp "biến mất"  trước hệ thống radar đối phương. 

Máy bay ném bom B-2 có kiểu dáng như một con dơi khổng lồ, không có cánh đuôi, cánh chính được kéo dài kỳ lạ. Cách thiết kế này giúp máy bay đánh trượt sóng radar đi hướng khác, hoặc hấp thụ, giảm được sóng phản xạ, làm hình ảnh trên màn hiện sóng radar bị yếu (hoặc không có). 

Nguyên lý hoạt động của radar là phát sóng tín hiệu lên bầu trời, gặp vật thể trên không sẽ phản xạ lại sóng về máy thu của radar. Từ đó, tín hiệu được xử lý và hiển thị lên màn hiện sóng radar giúp người điều khiển phát hiện hướng bay, độ cao, cự ly mục tiêu. Nếu tín hiệu sóng phản xạ bị đánh trượt đi hướng khác, thì đương nhiên radar không thể phát hiện mục tiêu. Qua đó, tên lửa phòng không cũng không có lệnh dẫn đường tấn công mục tiêu.

Khung thân kết cấu và khoang động cơ B-2 dùng hợp kim titan, còn lại đều do vật liệu phức hợp ghép nối với nhau, do ép ở áp suất cao nên không cần dùng đinh tán. Do vậy máy bay không dễ phản xạ tín hiệu radar. 

B-2 sử dụng vật liệu phức hợp đá đen và sợi than có trọng lượng nhẹ, cường độ chịu lực lớn, phản xạ sóng radar cực nhỏ. Trên bề mặt vật liệu có dạng tổ ong liti hấp thụ sóng radar. 

Buồng lái được thiết kế kiểu dạng cung tròn, khi sóng radar chiếu vào sẽ trượt theo dáng ngoài buồng lái để truyền đi, khó phản xạ lại.

Mép trước cánh máy bay B-2 được phủ lớp sơn hấp thụ sóng radar và thiết kế có lỗ rỗng kiểu tổ ong không thành qui tắc. Vì vậy, sóng radar khi chiếu vào khó phản xạ lại.

Với những biện pháp kỹ thuật trên đã đem lại cho B-2 khả năng tàng hình tuyệt vời. Nó đã được chứng minh trong nhiều cuộc chiến mà B-2 tham gia. 

Đặc biệt nhất, một sự kiện đã làm thế giới quân sự phải "choáng" trước khả năng của B-2. Tháng 6/1995, Mỹ đã đưa B-2 tới tham dự triển lãm hàng không Paris (Pháp). Trước khi xuất phát, Mỹ đã thông báo cho Pháp đường bay của B-2. Quân đội Pháp đã ra lệnh cho trạm radar cảnh giới sục sạo nhưng không thể nào phát hiện được B-2 cho tới khi hạ độ cao lộ diện trước con mắt người thật. 

Ngoài năng lực tàng hình, B-2 còn có sức tấn công mạnh mẽ với khả năng mang 23 tấn vũ khí gồm: 80 bom Mk-82 227kg hoặc 36 bom CBU 350kg hoặc 16 bom hạt nhân B61 trên giá phóng quay. Thậm chí, B-2 còn có thể mang bom thông minh dẫn đường GPS JDAM. 
Lắp bom vào khoang vũ khí máy bay ném bom B-2.

B-2 trang bị những công nghệ điện tử hàng không tiến tiến gồm: hệ thống radar mạng pha điện tử bị động AN/APQ-81 cung cấp chế độ ngắm mục tiêu, hỗ trợ B-2 bay bám sát và tránh địa hình; hệ thống định vị hàng không; hệ thống đối phó trả đũa điện tử.

Việc vận hành con "quái vật" dài tới 21m, cao 5,18m, trọng lượng cất cánh tối đa 170 tấn chỉ vẻn vẹn 2 phi công. Điều đó cho thấy máy bay có tính tự động hóa cực cao. 

B-2 trang bị 4 động cơ tuốc bin phản lực cánh quạt đẩy F118-GE-100 cho phép đạt tốc độ 1.010 km/h, tầm bay 10.400km, trần bay 15.000m

Động cơ của B-2 lắp bộ trộn dòng khí, lấy không khí lạnh dẫn vào buồng đốt động cơ và tua bin, làm hạ thấp nhiệt độ mặt ngoài. Loa phụt động cơ nằm sâu trong thân máy bay, qua đó giảm đáng kể tín hiệu hồng ngoại. Biện pháp này nhằm đối phó với khí tài hồng ngoại của đối phương có thể sử dụng để phát hiện máy bay qua tín hiệu nhiệt động cơ. 

Biện pháp đối phó máy bay tàng hình

Tất nhiên, "vỏ quýt dày có móng tay nhọn", không có loại vũ khí nào là không thể đối phó. Với máy bay tàng hình cũng vậy, hiện nay, thế giới đã phát triển một số phương án để "săn lùng" máy bay tàng hình.

Trước đây, trạm radar thường làm cả 2 nhiệm vụ: phát sóng và thu sóng phản xạ từ mục tiêu về. Nhưng kỹ thuật tàng hình sẽ tán xạ sóng radar đi theo hướng khác, không về máy thu. Vì vậy, người ta áp dụng hệ thống radar song trạm: trạm phát sóng và thu nhận sóng ở hai nơi khác nhau. Khi đó, khả năng thu được sóng phản xạ từ mục tiêu sẽ cao hơn nhiều. 

Ngoài ra, lợi dụng việc máy bay tàng hình thường chú trọng phần dưới thân để đối phó radar mặt đất mà không coi trọng phần mặt trên. Nên nếu dùng trạm radar trên vũ trụ có thể phát hiện mục tiêu, hoặc dùng radar đặt trên khí cầu để trinh sát mục tiêu di động phía dưới. 
Hệ thống radar trinh sát thụ động Kolchuga của Ukraine có thể phát hiện máy bay tàng hình.


Hoặc, một số nước đã phát triển thành công hệ thống trinh sát điện tử thụ động chuyên trị máy bay tàng hình. Thiết bị này hoạt động theo nguyên lý thu tín hiệu sóng điện từ phát ra từ máy bay. Bởi bất kỳ máy bay nào (kể cả máy bay tàng hình) đều có những thiết bị phát ra sóng điện từ. Hệ thống trinh sát thụ động lợi dụng điểm đó để tóm máy bay tàng hình.

Dù có những biện pháp như vậy, nhưng nó chỉ giúp ích được việc phát hiện B-2 phần nào. Không thể khắc chế hoàn toàn được vũ khí tấn công siêu tối tân này. Nó sẽ còn phụ thuộc vào nhiếu yếu tố khác mà đặc biệt là con người.

Trở lại với câu chuyện đối phó B-2 của Triều Tiên, hệ thống phòng không của nước này được bố trí nhiều tầng, nhiều lớp, dày đặc với hàng trăm bệ phóng tên lửa phòng không, hàng nghìn khẩu pháo. Trong tác chiến máy bay ném bom tầm cao, Triều Tiên có các hệ thống S-75 Dvina, S-125 Pechora, 2K12 Krug, S-200 đủ sức với tới B-2. 

Nhưng vấn đề là hệ thống radar trinh sát của Triều Tiên rất lạc hậu, chủ yếu trang bị các loại radar thế hệ cũ của Liên Xô. Nước này cũng không có khả năng nhập các hệ thống radar chuyên dùng để bắt máy bay tàng hình do lệnh cấm vận vũ khí.

Vì vậy, khả năng tác chiến chống máy bay tàng hình của Triều Tiên gặp rất nhiều khó khăn, nếu không muốn nói là "không có khả năng" hoặc "không thể".


Cận cảnh vũ khí Việt Nam khiến lính Mỹ khiếp sợ


Cận cảnh vũ khí Việt Nam khiến lính Mỹ khiếp sợ

Đơn giản, đầy sáng tạo và cực kỳ nguy hiểm, đó là cảm nhận của người Mỹ về các loại bẫy chông họ "dính" trong chiến tranh VN. Thanh Bình(theo 5rar.asn.au)
Các loại chông của du kích giải phóng thường được làm bằng những thanh thép có đầu nhọn, cắm vào đế làm bằng gỗ.
Các loại chông của du kích giải phóng thường được làm bằng những thanh thép có đầu nhọn, cắm vào đế làm bằng gỗ.
Đây là loại bẫy cơ bản, rất dễ chế tạo, chỉ có khả năng sát thương ở chân của đối tượng.
Đây là loại bẫy cơ bản, rất dễ chế tạo, chỉ có khả năng sát thương ở chân của đối tượng.
Loại bẫy đòn bẩy này nguy hiểm hơn nhiều, có thể khiến mặt và ngực người dẫm phải "thủng lỗ chỗ".
Loại bẫy đòn bẩy này nguy hiểm hơn nhiều, có thể khiến mặt và ngực người dẫm phải "thủng lỗ chỗ".
Loại chông cài cửa này sẽ đập xuống khi người lính đá phải sợi dây chăng ở cửa.
Loại chông cài cửa này sẽ đập xuống khi người lính đá phải sợi dây chăng ở cửa.
Nếu rơi xuống chiếc bẫy chông này, nạn nhân sẽ có cảm giác như bị một con cá sấu lớn ngoạm ngang thân.
Nếu rơi xuống chiếc bẫy chông này, nạn nhân sẽ có cảm giác như bị một con cá sấu lớn ngoạm ngang thân.
Chông treo gồm một khối gỗ nặng gắn đầy các mũi thép nhọn, được ngụy trang trên cành cây cao. Quả chông sẽ rơi xuống nếu có người gạt phải sợi dây gắn với lẫy cố định chông.
Chông treo gồm một khối gỗ nặng gắn đầy các mũi thép nhọn, được ngụy trang trên cành cây cao. Quả chông sẽ rơi xuống nếu có người gạt phải sợi dây gắn với lẫy cố định chông.
Hoạt động gần giống chông treo, chông hổ gồm một thanh gỗ lớn gắn các mũi thép giống như bồ cào, sẽ sập xuống theo chiều thẳng đứng khi có người dính bẫy.
Hoạt động gần giống chông treo, chông hổ gồm một thanh gỗ lớn gắn các mũi thép giống như bồ cào, sẽ sập xuống theo chiều thẳng đứng khi có người dính bẫy.
"Roi tre" là loại bẫy đơn giản nhưng cũng rất đáng sợ. Phần thân của nó là một thân tre uốn cong, gắn những mũi chông ở một đầu. Người trúng bẫy sẽ dính một đòn chí tử vì sức đàn hồi cực mạnh của thân tre.
"Roi tre" là loại bẫy đơn giản nhưng cũng rất đáng sợ. Phần thân của nó là một thân tre uốn cong, gắn những mũi chông ở một đầu. Người trúng bẫy sẽ dính một đòn chí tử vì sức đàn hồi cực mạnh của thân tre.
Khi khai hỏa, bẫy mũi tên sẽ biến nạn nhân thành món thịt xiên.
Khi khai hỏa, bẫy mũi tên sẽ biến nạn nhân thành món thịt xiên.
Với những mũi chông có ngạnh hướng xuống dưới, Chiếc bẫy này hoạt động giống nguyên lý của cây bắt ruồi. Người dính bẫy sẽ bị kẹt cứng, càng cố gắng rút chân ra thì chông đâm vào càng sâu.
Với những mũi chông có ngạnh hướng xuống dưới, Chiếc bẫy này hoạt động giống nguyên lý của cây bắt ruồi. Người dính bẫy sẽ bị kẹt cứng, càng cố gắng rút chân ra thì chông đâm vào càng sâu.


Sent from my iPad

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013

Hải quân Việt Nam bảo vệ Trường Sa như thế nào?

Hải quân Việt Nam bảo vệ Trường Sa như thế nào?

(Kienthuc.net.vn) - Chỉ với ít tàu thuyền nhưng với tinh thần ngoan cường, các chiến sĩ Hải quân Việt Nam đã giữ vững chủ quyền tổ quốc ở Trường Sa.
25 năm trận hải chiến Trường Sa

Trường Sa là một quần đảo gồm trên 100 đảo và bãi đá lớn nhỏ, phân bố trong một vùng biển rộng đến 180.000 km2 ngoài khơi Biển Đông thuộc chủ quyền nước ta. Từ thời các đảo này còn là hoang vu, các triều đại phong kiến Việt Nam đã thực hiện việc quản lý, khai thác trên quần đảo này. Việc khai thác, quản lý quần đảo Trường Sa được người Việt thực hiện liên tục cho đến ngày nay là một sự thật lịch sử không thể chối cãi. 

Theo Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam: "Trong những tháng đầu năm 1988, nước ngoài (là Trung Quốc – TG) cho quân chiếm đóng một số bãi đá thuộc khu vực quần đảo Trường Sa…  hải quân nước ngoài sau khi chiếm giữ trái phép Chữ Thập, Châu Viên, Huy Gơ, Ga Ven và Xu Bi cũng đang ý đồ chiếm giữ ba đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao nhằm gây thanh thế ở khu vực Trường Sa và trên biển Đông". Cũng theo tài liệu này, đến tháng 3/1988, lực lượng tàu chiến của "nước ngoài" hoạt động tại khu vực Trường Sa thường xuyên duy trì từ 9 đến 12 tàu. Trong khi đó, để bảo vệ các bãi đá, lực lượng ta chỉ có 3 tàu gồm tàu HQ-605 bảo vệ bãi Len Đao, HQ-604 bảo vệ bãi Gạc Ma và HQ-505 bảo vệ bãi Cô Lin. 

Tàu HQ604 trước khi ra đảo Gạc Ma. Ảnh tư liệu của lữ đoàn Hải Quân 125.

Sáng 13/3/1988, sau khi hai tàu của ta đến neo đậu tại bãi Gạc Ma và Cô Lin được chừng 30 phút thì tàu của Trung Quốc xuất hiện và áp sát tàu HQ-604 rồi gọi loa khiêu khích. Cán bộ, chiến sĩ ta động viên nhau giữ vững quyết tâm không để mắc mưu, kiên trì neo giữ quanh đảo. Phía ngoài, các tàu chiến, tàu hộ vệ, tàu vận tải của Trung Quốc thay nhau cơ động chạy quanh đảo Gạc Ma. Để bảo vệ đảo, quân ta thả xuồng đưa vật liệu lên làm nhà trên đảo và cắm cờ tổ quốc ngay trong đêm 13/3. Sáng 14/3, sau khi có thêm 2 tàu pháo đến, quân Trung Quốc tiếp tục khiêu khích và đe dọa dùng vũ lực. 

6 giờ ngày 14/3/1988, đối phương cho thuyền nhôm đổ bộ quân lên đảo Gạc Ma rồi tiến vào giật cờ của ta. Để bảo vệ cờ, quân ta đã chống trả quyết liệt nhưng địch đông nên 2 chiến sĩ đã hy sinh. Không uy hiếp được quân ta rút khỏi đảo, 7 giờ 30 phút ngày 14/3, đối phương dùng hai tàu pháo bắn hỏng nặng tàu 604 của ta. Tiếp theo, quân địch xông về phía tàu ta nhưng bị bộ đội trên tàu đánh trả quyết liệt khiến chúng phải nhảy xuống biển bơi về tàu của chúng. Đối phương tiếp tục nã đạn, làm tàu ta bị thủng nhiều lỗ và hỏng nặng chìm dần xuống biển. 

Cũng trong ngày 14/3, tại đảo Cô Lin và Len Đao, tàu HQ-505 và HQ-605 bị tàu địch bắn dữ dội. HQ-505 bị cháy khi mới trườn được 2/3 thân tàu lên đảo Cô Lin còn tàu HQ-605 bị bắn cháy và chìm vào sáng 15/3. Kết thúc trận chiến, theo Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam, ta bị tổn thất: 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 đồng chí hy sinh, 11 đồng chí bị thương, 70 đồng chí bị mất tích. (Sau này, đối phương trao trả ta 9 đồng chí, còn 61 người mất tích).

Công cuộc giữ đảo sau sự kiện Gạc Ma

Để bảo vệ chủ quyền tổ quốc ở đảo Trường Sa, Đảng, Nhà nước đã huy động mọi nguồn lực sẵn có. Theo thống kê của quân chủng Hải Quân, trong năm 1988, cùng với việc tăng cường vũ khí trang bị cho các đảo, Chính phủ đã cấp cho Hải quân hơn 5000 tấn thép cùng hàng nghìn tấn vật liệu khác như xi măng, cát, gỗ, vải bạt… để Hải quân đẩy mạnh việc xây dựng nhà trên các đảo chìm. Chính phủ còn giao cho Bộ Giao thông Vận tải thiết kế xây dựng cầu tàu ở đảo Trường Sa, lắp pin mặt trời cho các điểm đảo cùng một số bộ video casset cho bộ đội ở đảo. 

Bên cạnh đó, được sự chỉ đạo của Trung ương, nhiều tỉnh thành đã ủng hộ vào công việc xây dựng nhà ở Trường Sa. Nhờ tập trung mọi nguồn lực, động viên toàn dân hướng về Trường Sa, đến cuối tháng 8/1988, ta đã cơ bản hoàn thành việc xây dựng các loại nhà cấp 1, 2, 3, nâng tổng số lên 21 đảo và bãi đá ngầm với 32 điểm đóng giữ, hình thành 5 cụm đảo; đồng thời tập trung củng cố cơ sở bảo đảm ở các đảo trung tâm của từng cụm gồm: Song Tử, Nam Yết, Trường Sa, Phan Vinh, Thuyền Chài. Các đảo được tăng cường quân số, hỏa lực, công trình phòng thủ, tạo thành thế chiến đấu liên hoàn từng cụm đảo trong thế trận phòng thủ chung, góp phần bảo vệ sự toàn vẹn chủ quyền vùng biển, thềm lục địa và vùng kinh tế đặc quyền của Tổ quốc.

Việc bảo vệ chủ quyền ở Trường Sa nói riêng và bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc nói chung đã thu hút được sự quan tâm của toàn dân. Nhiều thư từ động viên được gửi đến các chiến sĩ đang đóng nơi đảo xa. Nhiều sáng kiến khoa học kỹ thuật được gửi đến cơ quan chức năng để giúp bộ đội ở Trường Sa thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền. Điển hình nhất là đầu năm 2012, công ty Thạch Anh ở TP.HCM đã nghiên cứu và thử nghiệm công nghệ sản xuất bê tông từ cát biển và nước biển. Sau 6 tháng nghiên cứu, công ty này đã thành công khi cho ra sản phẩm bê tông đạt tiêu chuẩn mà lại tốn ít xi măng. Ngày 14/3/2012, công ty Thạch Anh đã chuyển giao công nghệ cho Bộ Quốc phòng để ứng dụng vào việc xây dựng các công trình ở Trường Sa. 

Hoạt động mới đây nhất thể hiện ý chí bảo vệ chủ quyền ở Trường Sa của người Việt là khánh thành lá cờ bằng gốm sứ trên đảo Trường Sa Lớn. Lá cờ bằng gốm trên mái nhà có kích thước 12,40m x 25m (diện tích 310m²) được ghép từ 310.000 viên gốm nhỏ, cỡ 3 x 3cm do công ty Nghệ thuật Tân Hà Nội thực hiện. Với diện tích lớn tới 310m², lá cờ gắn gốm không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật mang tính khẳng định chủ quyền mà còn được sử dụng như một bề mặt thu nước mưa khổng lồ góp phần tích trữ nước ngọt trên đảo. 

 Lá cờ Tổ quốc bằng gốm khổng lồ trên đảo Trường Sa Lớn. Ảnh: www.sggp.org.vn

Ngày nay, cả nước đang hướng về Trường Sa. Nhờ các phương tiện thông tin hiện đại, sự hiểu biết về chủ quyền biển đảo trong nhân dân, nhất là giới trẻ được phổ biến rất rộng. Đó là một điểm tựa vững chắc để Nhà nước thực hiện các hoạt động gìn giữ và bảo vệ chủ quyền ở nơi đảo xa.

Sent from my iPad

Chiến thuật “hiểm” của bộ đội VN khiến Mỹ "ớn" nhất


Chiến thuật "hiểm" của bộ đội VN khiến Mỹ "ớn" nhất

(Kienthuc.net.vn) - Sau 8 năm trực tiếp chiến đấu ở chiến trường VN, lính Mỹ nhận ra những trận đánh giáp lá cà và cái chết đến từ lưỡi lê là điều mà họ ớn nhất.
Những cái chết bằng lưỡi lê

Quân Mỹ lắm bom nhiều pháo. Giao chiến với bộ binh Mỹ không đơn giản như với quân Pháp vì hỏa lực nhiều tầng nhiều lớp của họ. Trên không có máy bay ném bom, dưới đất là súng đạn của binh lính và bất thần đạn pháo từ những nơi rất xa câu đến theo tọa độ rất chính xác.

Ngay những lần đối mặt đầu tiên, chỗ mạnh và chỗ yếu của quân Mỹ đã được những người lính Việt Nam nhận thức rõ ràng. Trong cuốn hồi kýChiến trường mới của Thượng tướng Nguyễn Hữu An có ghi lại nhận định của những người lính sau lần đầu tiên giáp mặt quân Mỹ. 
Nhân dịp kỷ niệm 38 năm Ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam (30/4/1975 - 30/4/2013), Kiến Thức xin giới thiệu tới độc giả loạt bài"Lật lại hồ sơ chiến tranh Việt Nam" với những thông tin đầy đủ, sinh động và giàu giá trị tham khảo. Loạt bài sẽ được đăng tải liên tục từ 26/4 - 1/5/2013. Kính mời độc giả theo dõi, đón đọc.

Hồi ký viết: "Anh Chu Huy Mân gặp một số chiến sĩ từ trận đánh trở về, anh hỏi: các cậu thấy đánh Mỹ có đặc điểm gì? Anh em không nhận ra vị tướng của mình, vì anh không đeo quân hàm và không ai giới thiệu nên họ nói năng thoải mái. Một chiến sĩ nói: đánh nhau với bọn bộ binh Mỹ cũng dễ thôi, nhưng nó lắm máy bay, lắm bom, lắm pháo quá, không lúc nào ngớt, nhức đầu nhức óc".

Lý thuyết tác chiến Mỹ cho rằng, mỗi khi đội quân của họ bị đối phương dồn ép, họ sẽ dùng máy bay ném bom, pháo bắn tới tạo thành một bức tường lửa để ngăn cản đối phương. Trong thời gian đó, bộ binh của họ sẽ tranh thủ củng cố lại thế trận để phản công giành lại chủ động và kết thúc trận đánh. 

Ngược lại, quân ta vũ khí hạng nặng ít hơn. Hoàn toàn không có máy bay ném bom, pháo bắn yểm trợ cũng rất ít. Do đó, người lính trên chiến trường chủ yếu trông vào chính vũ khí nhẹ của mình và đồng đội. Nếu so sánh về vũ khí trang bị theo sách vở thì các đội quân của ta chẳng bao giờ dám đương đầu với bộ binh Mỹ.

Tuy nhiên, quân ta nhanh chóng nhận ra rằng, đánh giáp lá cà với lưỡi lê và lựu đạn là một sách lược có lợi để đối phó với tình hình. Lối đánh này của quân ta đã có truyền thống từ cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp và là một trong những nỗi ám ảnh với lính Pháp. Trong hồi ký về Điện Biên Phủ, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã dẫn lời khai của những tên tù binh Pháp ở Điện Biên nói rằng, trong những cái chết ở chiến trường, binh lính của họ sợ nhất là chết bằng lưỡi lê khi đối mặt với Việt Minh. Giờ đây, nỗi kinh hoàng ấy, người Mỹ lại tiếp tục được nếm trải.

Quan trọng hơn, lối đánh gần giúp hạn chế tác dụng của bom pháo Mỹ. Khi quân hai bên ở quá gần nhau, việc ném bom sát thương vào bất kỳ khu vực nào cũng đều gây ra thương vong cho cả hai phía.

Ngay trong trận đụng độ lớn đầu tiên giữa lính Mỹ và quân chính quy của ta ở thung lũng Ia-Drang vào tháng 11/1965, lối đánh này đã khiến quân Mỹ lúng túng. Hồi ký của tướng An viết: "Sau khi dùng hỏa lực súng cối chế áp ngắm vào đội hình địch, quân ta dũng cảm đồng loạt xung phong chia cắt đội hình và đánh giáp lá cà với địch. Cả đôi bên lúc này đội hình xen kẽ nhau đến độ chỉ cho phép dùng tiểu liên bắn găm, dùng lưỡi lê, lựu đạn mà chiến đấu".

 Lính Mỹ trong trận Ia-Drang. Ảnh: Awesomestories.com

Ở phía bên kia, ký giả Gallo Way, người đi cùng đơn vị lính Mỹ mô tả về lối đánh hiểm của đối phương: "Tình hình đã xấu lại trở nên xấu hơn. Đến bây giờ quân Bắc Việt Nam đã có mặt ngay trong hàng ngũ quân Mỹ và trên các ngọn cây cao. Bất cứ ai vận động lên đều bị bắn chết. Thiếu tá Henri và trắc thủ pháo binh đã cố gắng dùng điện đài của họ để gọi pháo binh và không quân chi viện. Điều này làm giảm bớt sự chết chóc, nhưng với đội hình kéo dài hơn 100 Yard giữa bãi cỏ cao rậm thì các quả đạn pháo và napan sát thương quân Bắc Việt Nam đồng thời cũng sát thương cả quân Mỹ". 

Chứng minh cho điều này, vào năm 1993, tướng Harold Moore, người trực tiếp chỉ huy đơn vị tham chiến trong trận Ia-Drang khi trở lại thăm chiến trường, đã chỉ cho tướng Nguyễn Hữu An vị trí mà 2 quả bom Napan của không quân Mỹ đã ném đúng đội hình bộ binh Mỹ khiến nhiều lính Mỹ chết cháy.

Trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, chiến thuật đánh gần được toàn quân ta vận dụng vào mọi trận đánh dù là chiến đấu trên bộ hay trên không. Lối đánh đó được tóm tắt trong phương châm nổi tiếng "nắm thắt lưng địch mà đánh".

Những cái chết bất thình lình

Mặc dù cái chết đến từ từ trong đau đớn khi dính phải lưỡi lê của đối phương đã ghê gớm nhưng ít ra lính Mỹ ở ngoài chiến trường còn nhìn thấy được nguyên nhân. Trong khi đó, nhiều trường hợp viên chức, sĩ quan Mỹ đã chết ngay giữa Sài Gòn và các thành phố lớn khác mà không kịp hiểu nguyên nhân. Những cái chết bất thình lình đó mới là điều đáng sợ nhất khi người Mỹ đến Việt Nam. 

Kẻ gây ra nỗi ám ảnh đó, không ai khác chính là Biệt động Sài Gòn. Theo thống kê sơ lược, trong suốt cuộc chiến, Biệt động đã liên tục tấn công hàng nghìn trận, gây thương vong cho hàng chục nghìn lính và quan chức Mỹ và cả đám tay sai ác ôn của chúng.

Với những trận đánh được nêu trong cuốn Biệt động Sài Gòn – Những chuyện giờ mới kể, ta thấy nét đặc trưng của Biệt động là lối đánh bí mật, bất ngờ. Giữa một thành phố vài triệu dân, Biệt động bình thường như bất kỳ ai. Họ âm thầm nghiên cứu các mục tiêu và nghĩ ra các kế hoạch tấn công vượt ra ngoài mọi sự dự liệu của kẻ địch.

Trận tấn công vào cư xá Brink nơi đóng hàng ngàn sĩ quan Mỹ trong dịp Giáng sinh năm 1964 là một ví dụ. Những chiến sĩ Biệt động đóng giả sĩ quan Sài Gòn để mang một ô tô chứa hơn 100 kg thuốc nổ vào trong gầm tòa cư xá rồi đặt kíp nổ và đàng hoàng đi ra ngoài. Trận đánh này đã khiến 175 trong số hơn 200 sĩ quan Mỹ có mặt ở cư xá thương vong. Tòa cư xá đồ sộ bị thổi rỗng 3 tầng dưới.

Cũng có khi chiến sĩ Biệt động táo bạo đánh vào những nơi được bảo vệ nghiêm ngặt nhất như Tòa Đại sứ Mỹ tháng 3/1965 hoặc trận đánh vào trụ sở Tổng nha Cảnh sát của chính quyền Sài Gòn tháng 8/1965. Những trận này, Biệt động bất thần ập vào mục tiêu kích nổ khối thuốc đặt trên ô tô rồi rút lui ngay trước mắt đông đảo cảnh sát, mật vụ của Sài Gòn. 

Ngoài ra, bất kỳ ở nơi đâu: trên phố, trong quán ăn, rạp hát… lính Mỹ đều là mục tiêu tấn công của Biệt động bằng lựu đạn, mìn khiến bọn chúng luôn nơm nớp lo sợ. Với những tên tay sai đắc lực hoặc những tên chỉ điểm đầu hàng, nhiều lúc Biệt động đột nhập hẳn vào nhà riêng, đọc lệnh tử hình của Cách Mạng và kết liễu rất gọn gàng.

Những phi vụ của Biệt động Sài Gòn khiến từ tướng tá đến binh lính Mỹ không bao giờ yên tâm mặc dù ở ngay trong trụ sở hay căn cứ được bảo vệ nghiêm ngặt của mình. Đến nỗi, các lính Mỹ phải thốt lên rằng, ở xứ sở này, cái chết có thể đến bất kỳ lúc nào, ở bất kỳ đâu. 

Vì sao Mỹ không ném bom nguyên tử xuống Việt Nam?


Vì sao Mỹ không ném bom nguyên tử xuống Việt Nam?

(Kienthuc.net.vn) - Mỹ từng bàn thảo kế hoạch ném bom nguyên tử ở Việt Nam, nhưng kế hoạch "to tát" ấy đã bị gác lại. Đâu là nguyên nhân khiến Johnson phải "chùn bước"? 

Thay đổi nhiều chiến lược, thủ đoạn tác chiến và sử dụng những vũ khí công nghệ mới nhất nhưng quân Mỹ vẫn không sao thoát khỏi thế bị động. Trong cơn khốn cùng, đã có lúc người Mỹ định sử dụng bom nguyên tử để giải nguy.

Dùng bom nguyên tử để cứu Khe Sanh

Đầu năm 1968, Khe Sanh trở thành mối quan tâm hàng đầu đối với các tướng lĩnh Mỹ và nội các của Tổng thống Johnson vì tại đây, 5.000 lính Mỹ đang bị quân giải phóng vây hãm. Lo sợ Khe Sanh trở thành một Điện Biên Phủ thứ 2, Tổng thống và các quan chức chóp bu của Mỹ đã bàn bạc nhiều lần để tìm cách giải vây. Trong những cuộc họp đó, khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân đã được nêu ra.

Trong cuốn Những bí mật của chiến tranh Việt Nam, Daniel Ellsberg kể lại: "Ngày 10/2/1968, tờ Bưu điện Washington trích lời phát biểu của tướng Wheeler trước một vài thượng nghị sỹ rằng Hội đồng Tham mưu sẽ khuyến nghị sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật nếu thấy việc này là cần thiết để bảo vệ năm nghìn lính thủy đánh bộ đang bị mắc kẹt tại cứ điểm Khe Sanh, mặc dù ông ta không cho rằng lực lượng tại đây sẽ yêu cầu giúp đỡ".

 Chiến trường Khe Sanh năm 1968 trở thành nỗi khiếp đảm với nhiều lính Mỹ. Ảnh: Lao Động.

Đồng quan điểm với tướng Wheeler, tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở Việt Nam, tướng Westmoreland cũng cho rằng một phương án dùng vũ khí hạt nhân loại nhỏ ở Khe Sanh là nên tính toán. Westmoreland viết trong hồi ký của mình: "Xem xét khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử chiến thuật ở Khe Sanh là một ý tưởng khôn ngoan. Khu vực xung quanh Khe Sanh gần như không có người ở, số lượng thường dân bị thương vong sẽ ở mức thấp nhất" và viên tướng này dự tính tiếp: "Sử dụng vài quả bom nguyên tử cỡ nhỏ ở Việt Nam, hoặc thậm chí đe dọa sử dụng sẽ nhanh chóng góp phần kết thúc sớm cuộc chiến. Nếu Washington muốn gửi thông điệp đến Hà Nội, chắc chắn vũ khí nguyên tử cỡ nhẹ sẽ làm được điều này rất hiệu quả".

Ở cấp cao nhất là nội các của Tổng thống Johnson, tác giả Daniel Ellsberg cũng đưa ra bằng chứng xác nhận rằng từng có sự bàn thảo về một kế hoạch sử dụng bom hạt nhân để cứu Khe Sanh. Cuốn sách cho biết: "Mort Halperin  làm việc cho Lầu Năm Góc từng nói với tôi rằng tại các buổi ăn trưa làm việc thứ ba hàng tuần, Ngoại trưởng, Bộ trưởng Quốc phòng, Tổng thống và tướng Wherler thường thảo luận chủ đề này (việc sử dụng bom nguyên tử - TG)".

Cuộc tranh luận trong chính giới

Mặc dù được giữ bí mật, chẳng bao lâu kế hoạch sử dụng vũ khí hạt nhân để cứu Khe Sanh đã bị rò rỉ ra ngoài. Ngay tức khắc, nó gây ra một làn sóng dư luận sôi động trên mặt báo và cũng kéo theo một cuộc tranh luận gay gắt trên chính trường. 

Những nghị sỹ thuộc phe diều hâu ủng hộ kế hoạch này với lập trường làm như vậy sẽ kết thúc nhanh chiến tranh. Nhưng số người phản đối đông đảo hơn. Trong số đó, Thượng nghị sỹ Fulbright ở Ủy ban đối ngoại Thượng viện và hai nghị sỹ khác là Clark và Aiken đã lên án việc này ngay khi họ biết tin vào đầu tháng 2/1968. Trên kênh truyền hình CBS, Thượng nghị sỹ Eugene Mc Carthy đang vận động tranh cử Tổng thống đã công khai trả lời về "Kế hoạch sử dụng vũ khí nguyên tử của nội các Johnson" làm dư luận Mỹ xôn xao.

Trong thời điểm này, Thủ tướng Anh Harold Wilson đang ở Washington nhân chuyến thăm Mỹ cũng đã phát biểu với báo giới, công khai phản đối kế hoạch đó, ông ta nói: "Thật điên rồ nếu Mỹ sử dụng vũ khí nguyên tử. Điều đó không chỉ đem lại hậu quả thảm khốc cho vị thế của nước Mỹ mà còn là khởi đầu rất nguy hiểm cho khả năng leo thang chiến tranh trên toàn thế giới".

Trước sức ép từ dư luận, Tổng thống Johnson buộc phải ra thông cáo báo chí trả lời giả dối rằng: "Trong suốt 7 năm qua, tôi chưa hề nhận được lời yêu cầu triển khai vũ khí nguyên tử nào cả. Do đó tôi muốn chấm dứt thảo luận về vấn đề này".

Sau này, hồ sơ mật của Lầu Năm Góc bị Daniel Ellsberg tiết lộ, người ta biết thêm rằng Johnson từng nói trong một cuộc bàn thảo về kế hoạch ném bom hạt nhân vào Khe Sanh rằng: "Tôi ao ước không bao giờ phải đối mặt với quyết định sử dụng vũ khí nguyên tử. Do đó tôi yêu cầu các ngài phải đảm bảo với tôi là chỉ sử dụng vũ khí quy ước song vẫn có thể bảo vệ được Khe Sanh".

Sợ trả đũa, Mỹ không dám làm ác

Trên thực tế, sau hơn 70 ngày bị vây hãm, lính Mỹ đã phải rút khỏi Khe Sanh mà không có một trận ném bom nguyên tử nào. Kế hoạch ném bom nguyên tử cứu Khe Sanh đã bị gác qua một bên. Phải chăng là do phong trào đấu tranh phản chiến của dân Mỹ và các chỉ trích trong chính giới đã khiến kế hoạch này bị gác lại? Sự thực thì họ sợ một cuộc trả đũa hạt nhân từ đối phương. 

 Chiến dịch  Đường 9-Khe Sanh. Ảnh: Vietnamdefence.com

Theo cuốn Giải mã hồ sơ mật của Nxb Lao Động, trong khi lập kế hoạch tấn công hạt nhân, một nhóm các tướng lĩnh và quan chức hàng đầu được thành lập để nghiên cứu. Nhóm này được gọi là JASON. Qua quá trình cân nhắc kỹ lưỡng, nhóm này trình lên Johnson một bản báo cáo chi tiết đầy đủ. 

Bản báo cáo dự liệu, trong hai đồng minh của Hà Nội thì Trung Quốc mới chỉ ở giai đoạn đầu của các thử nghiệm tên lửa hạt nhân. Cho nên chỉ có Liên Xô là nguồn cung cấp vũ khí nguyên tử cho Việt Nam. Mặc dù hiện nay các loại bom và tên lửa hạt nhân của Liên Xô, nhẹ nhất cũng 1.000 pound (khoảng 450 kg) nên rất khó sử dụng đối với các đội quân đánh theo lối du kích của đối phương. Nhưng rất có khả năng Liên Xô đã thiết kế được loại vũ khí nguyên tử chuyên biệt cho bộ binh bắn đi từ súng cối, súng không giật nặng vài trăm pound với tầm bắn xa vài dặm. Họ cũng tin chắc rằng loại vũ khí này Việt Nam đã sở hữu.

Theo tiên đoán của nhóm Jason, những vũ khí này có cỡ nhỏ, trọng lượng nhẹ có sức công phá từ 10 đến 20 kiloton sẽ được di chuyển từ Bắc vào Nam qua đường mòn Hồ Chí Minh. Tất nhiên quá trình di chuyển sẽ mất vài tuần thậm chí hàng tháng trời để chuyển được từ 50 đến 100 vũ khí nguyên tử nhưng việc di chuyển là không khó khăn gì.

Từ đó, họ dự kiến 3 kịch bản trả đũa của đối phương. Thứ nhất là bí mật vận chuyển đủ số lượng vũ khí nguyên tử để tập kích đồng loạt nhiều căn cứ quân sự của Mỹ ở miền Nam. Khả năng này hơi khó so với trình độ tác chiến của đối phương hiện tại và cũng rất nguy hiểm nếu như có một vài trận địa chậm trễ không tiến hành kịp thời.

Thứ hai là tấn công kéo dài trong nhiều tuần hoặc hàng tháng trời. Mỗi lần sẽ tấn công một căn cứ. Khả năng này được cho là dễ xảy ra nhất vì nó phù hợp với lối đánh và trình độ tác chiến hiện tại của đối phương.

Thứ ba là tập trung tấn công vào một mục tiêu chiến lược quan trọng. Tân Sơn Nhất được Mỹ xác định là một mục tiêu lý tưởng nếu Việt Nam chọn đánh theo lối này vì sân bay này nằm ở ngoại ô, trong một khu vực ít dân cư và là một mục tiêu chiến lược cực kỳ quan trọng. Hơn nữa, chính Mỹ phải thừa nhận rằng công tác an ninh hiện tại ở sân bay này là rất kém, khó có thể đảm bảo rằng sẽ không có 1 va li bom lọt lưới vào trong. 

Vì những lý do đó, người Mỹ đã gác ý định sử dụng vũ khí nguyên tử mặc dù cuộc chiến tranh ở Việt Nam là ác liệt và tổn thất nhất trong các cuộc chiến mà họ từng tham gia.

(Chơi cho vui) AIRDROP CHAINGE FINANCE - dự án xây dựng ứng dụng ngân hàng số cho mọi người

 Không hiểu lắm về cái này, tuy nhiên thấy quảng cáo khá nhiều, lại chỉ cung cấp vài thông tin cá nhân (mà mấy ông lớn như facebook với goog...